Điều 7. Thẩm quyền xử phạt của cơ quan thuế:
1- Cán bộ thuế đang thi hành công vụ được quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 100.000 (một trăm nghìn) đồng đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế trên địa bàn quản lý của mình.
Trưởng trạm thuế, đội trưởng đội thuế được quyền phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 200.000 (hai trăm nghìn) đồng đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế trên địa bàn quản lý của mình.
2- Chi cục trưởng Chi cục thuế được quyền:
Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 2.000.000 (hai triệu) đồng đối với các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế quy định tại các Điều 2, 4, 5 của Nghị định này trên địa bàn quản lý của mình.
Phạt tiền bằng số tiền thuế trốn đối với các hành vi khai man, trốn thuế quy định tại Điều 3 của Nghị định này.
Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế giá trị đến 10.000.000 (mười triệu) đồng theo quy định tại Điều 6 của Nghị định này.
3- Cục trưởng Cục thuế được quyền:
Phạt cảnh cáo, phạt tiền đến 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng đối với các hành vi vi phạm hành chính trên địa bàn quản lý của mình trong lĩnh vực thuế quy định tại các Điều 2, 4 và 5 của Nghị định này.
Phạt đến 3 lần số tiền thuế trốn đối với các hành vi man khai, trốn thuế quy định tại Điều 3 của Nghị định này; riêng đối với thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu phạt tiền đến 5 lần số tiền thuế trốn lậu.
Tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế.
Chi cục trưởng Chi cục Thuế, Cục trưởng Cục Thuế được quyền ra quyết định xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại khoản 2 Điều 4 của Nghị định này.