Điều 5. - Nguyên tắc xác định các vụ vi phạm chế độ trách nhiệm.
1. Phải căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ đã quy định cho từng tổ chức, từng bộ phận, từng cá nhân có liên quan và căn cứ vào các điều trong bản quy định này, để xác định phạm vi và mức độ trách nhiệm của từng tổ chức, từng bộ phận và từng người, kể cả người có trách nhiệm ở cơ quan quản lý cấp trên, hoặc ở ngành khác có liên quan.
2. Trường hợp gặp thiên tai, địch họa, hoặc các loại tai nạn khác, cán bộ, nhân viên đã cố gắng khắc phục khó khăn nhưng vẫn không hoàn thành nhiệm vụ, thì được miễn hoặc giảm trách nhiệm; mức độ miễn, giảm do cơ quan có thẩm quyền xét và quyết định.
3. Trong các trường hợp sau đây, các tổ chức và cá nhân cán bộ, nhân viên không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị xử lý nặng hơn.
- Cấp trên hoặc quần chúng đã phát hiện sở hở hoặc thiếu sót và góp ý kiến giải quyết mà đương sự không có biện pháp có hiệu lực để khắc phục kịp thời những sơ hở, thiếu sót ấy.
- Đương sự đã bị xử phạt về vi phạm chế độ trách nhiệm mà lại tái phạm.
4. Thủ trưởng hoặc người đứng đầu các ngành, các địa phương, các cơ quan, đơn vị phải liên đới chịu trách nhiệm trong những trường hợo sau đây:
- Để cho cán bộ, nhân viên thuộc quyền quản lý của mình vi phạm nghiêm trọng chế độ trách nhiệm mà không biết hoặc biết nhưng không có biện pháp kiên quyết và có hiệu lực để khắc phục.
- Không giao rõ nhiệm vụ, không kiểm tra, đôn đốc cấp dưới thực hiện.
- Cấp dưới đã báo cáo, xin chỉ thị, nhưng không sử dụng đầy đủ quyền hạn của mình để giải quyết.
5. Trong trường hợp người thủ trưởng hoặc người đứng đầu ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị để cho người giúp việc (phó), người đại diện hoặc người mình uỷ quyền làm sai chế độ, chính sách hoặc làm hư hỏng những nhiệm vụ mà pháp luật đã giao cho mình, thì người thủ trưởng hoặc người đứng đầu vẫn phải chịu trách nhiệm chủ yếu trước cơ quan quản lý cấp trên.
II. CHẾ ĐỘ KỶ LUẬT