vanban.org

Điều 7. - Quyền nộp đơn xin bảo hộ giải pháp hữu ích. — Nghị định 200/HĐBT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 24/11/1996 Sửa đổi, bổ sung: 63-CP · 24/10/1996
Hội đồng Bộ trưởng Ban hành 28/12/1988 Hiệu lực 28/12/1988 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 1 phiên bản · 37 năm
Nghị định số 200/HĐBT Ban hành Điều lệ về giải pháp hữu ích 1988 · 200/HĐBT
24/10/199663-CPChưa hợp nhất 28/12/1988Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 200/HĐBT › Chương I › Điều 7
Đọc toàn văn

Điều 7. - Quyền nộp đơn xin bảo hộ giải pháp hữu ích.

1. Quyền nộp đơn xin bảo hộ giải pháp hữu ích thuộc về cá nhân hay tập thể tạo ra giải pháp hữu ích bằng lao động sáng tạo của mình (dưới đây gọi là tác giả) hoặc người thừa kế hợp pháp của tác giả.

2. Đối với giải pháp hữu ích được tạo ra trong phạm vi trách nhiệm của tác giả khi thực hiện nhiệm vụ của cơ quan đơn vị hoặc chủ yếu nhờ sự giúp đỡ về phương tiện vật chất, nhân lực của cơ quan, đơn vị chủ quản (sau đây gọi là giải pháp hữu ích công vụ), quyền nộp đơn thuộc về cơ quan, đơn vị đó.

Trường hợp tác giả đã thông báo khả năng bảo hộ giải pháp hữu ích cho cơ quan, đơn vị sau thời hạn 2 tháng kể từ ngày thông báo cơ quan, đơn vị không nộp đơn xin bảo hộ thì tác giả có quyền nộp đơn xin bảo hộ giải pháp đó.

3. Đối với giải pháp hữu ích được tạo ra khi thực hiện hợp đồng nghiên cứu triển khai khoa học kỹ thuật thì quyền nộp đơn thuộc bên tạo ra giải pháp hữu ích, nếu không có sự thoả thuận nào khác ghi trong hợp đồng giữa các bên.

4. Đối với giải pháp hữu ích được tạo ra ở các đơn vị kinh tế cá thể, kinh tế tư doanh thì quyền nộp đơn thuộc về tác giả nếu trong hợp đồng không có sự thoả thuận khác.