Điều 5.
a) Chính phủ thống nhất quản lý ODA, bao gồm việc xác định chủ trương và phương hướng thu hút, vận động Bên nước ngoài; đàm phán và ký kết các Điều ước quốc tế; tổ chức giám sát quá trình thực hiện và đánh giá kết quả.
Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Bộ Tài Chính, Bộ Ngoại giao, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Văn phòng Chính phủ giúp Thủ tướng Chính phủ trong công tác quản lý ở tầm vĩ mô, trong đó Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước là cơ quan đầu mối trong việc điều phối, quản lý và sử dụng các nguồn ODA.
b) Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Uỷ ban Nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và cơ quan Trung ương của các đoàn thể quần chúng chịu trách nhiệm trước Chính phủ về việc quản lý và sử dụng có hiệu quả ODA cho các chương trình và dự án thuộc phạm vi quản lý của cơ quan, địa phương mình.
c) Chủ nhiệm chương trình, Giám đốc dự án, Chủ đầu tư các công trình sử dụng ODA chịu trách nhiệm thực hiện các qui định của Nhà nước liên quan đến việc quản lý và sử dụng ODA và các qui định của Điều ước quốc tế liên quan về phần ODA được tiếp nhận.