Điều 7. -
1. Đất lâm nghiệp được qui hoạch cho rừng phòng hộ gồm:
a) Phòng hộ đầu nguồn;
b) Phòng hộ chắn gió, chắn cát bay;
c) Phòng hộ chắn sóng, lấn biển;
d) Phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái.
2. Giao cho các ban quản lý của các khu rừng phòng hộ được xác lập theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ (hoặc Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương) việc quản lý các khu rừng đó để bảo vệ, xây dựng theo qui hoạch và kế hoạch đã được duyệt.
3. Đối với các khu rừng phòng hộ đã giao cho các tổ chức (kinh tế lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp của Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc các tổ chức khác), Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị này có trách nhiệm tổ chức quản lý, bảo vệ, xây dựng các khu rừng đó theo qui hoạch, kế hoạch được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xét duyệt.
4. Đối với các khu rừng phòng hộ có diện tích nhỏ trong phạm vi của một xã, thôn, buôn, bản nhưng chưa giao cho người sử dụng cụ thể; Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã đó có trách nhiệm tổ chức để các thôn, buôn, bản quản lý, bảo vệ, xây dựng các khu rừng đó theo sự hướng dẫn của cơ quan quản lý Nhà nước về lâm nghiệp ở địa phương.
5. Nhà nước giao đất trồng rừng cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để gây trồng rừng phòng hộ hoặc khoanh nuôi, bảo vệ thảm thực vật được kết hợp với sản xuất kinh doanh lâm nghiệp, nông nghiệp, ngư nghiệp ở các vùng sau đây:
a) Vùng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu;
b) Vùng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay;
c) Vùng phòng hộ chắn sóng, lấn biển mà đất đã ổn định;
d) Vùng phòng hộ bảo vệ môi trường sinh thái.