vanban.org

Điều 10. Trách nhiệm của Trung tâm: — Nghị định 19/2005/NĐ-CP

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 20/01/2014 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 3/3 · từ 20/01/2014 Thay thế: 07/2015/TT-BLĐTBXH · 25/02/2015 Thay thế: 196/2013/NĐ-CP · 21/11/2013
Chính phủ Ban hành 28/02/2005 Hiệu lực 17/03/2005 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 5 phiên bản · 21 năm
Nghị định số 196/2013/NĐ-CP Quy định thành lập và hoạt động của Trung tâm dịch vụ việc làm · 196/2013/NĐ-CP
Nghị định số 19/2005/NĐ-CP Về điều kiện, thủ tục thành lập và hoạt động của tổ chức giới thiệu việc làm · 19/2005/NĐ-CP
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 19/2005/NĐ-CP › Chương II › Điều 10
Đọc toàn văn

Điều 10. Trách nhiệm của Trung tâm:

1. Thực hiện đúng các quy định của pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của Trung tâm.

2. Xây dựng kế hoạch hàng năm và thực hiện đúng kế hoạch đã được cấp trên phê duyệt.

3. Thực hiện các quyền lợi cho cán bộ và những người làm việc ở Trung tâm với hình thức hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật.

4. Thực hiện đầy đủ các hợp đồng đã giao kết, các cam kết với người lao động, người sử dụng lao động, người học nghề, người được tư vấn.

5. Cán bộ, công chức và những người làm việc theo hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc của Trung tâm phải đeo biển, trang phục thống nhất khi làm việc.

6. Lập sổ để theo dõi các hoạt động của Trung tâm theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

7. Theo dõi tình trạng việc làm của người lao động do Trung tâm giới thiệu hoặc cung ứng trong thời gian một năm (đối với những trường hợp thực hiện hợp đồng lao động không xác định thời hạn và hợp đồng lao động xác định thời hạn từ đủ 12 tháng đến 36 tháng) hoặc trong thời gian thực hiện hợp đồng lao động (đối với những trường hợp thực hiện hợp đồng lao động mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng). Người lao động do Trung tâm giới thiệu việc làm khi bị mất việc làm thông báo cho Trung tâm biết để Trung tâm tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động sử dụng dịch vụ của Trung tâm tìm việc làm mới.

8. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày được thành lập, Trung tâm phải thông báo trên báo địa phương hoặc báo Trung ương trong 05 (năm) số liền các thông tin về tên gọi, địa điểm, lĩnh vực hoạt động, tài khoản, tên giám đốc, số điện thoại của Trung tâm.

Trước 15 ngày kể từ ngày bắt đầu hoạt động, Trung tâm có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội địa phương sở tại về ngày bắt đầu hoạt động và lĩnh vực hoạt động.

9. Tại trụ sở của Trung tâm phải có biển đề tên Trung tâm, số điện thoại, địa chỉ. Trong trường hợp cần thiết phải dùng tiếng nước ngoài, thì cỡ chữ nước ngoài phải nhỏ hơn cỡ chữ tiếng Việt và viết ở phía dưới chữ tiếng Việt. Trung tâm phải có sơ đồ các bộ phận làm việc và phải niêm yết công khai bản sao quyết định thành lập Trung tâm (có công chứng) tại trụ sở.

10. Trước ngày 05 tháng 7 và ngày 05 tháng 01 hằng năm, Trung tâm có trách nhiệm báo cáo định kỳ 06 (sáu) tháng đầu năm và cả năm về Sở Lao động -Thương binh và Xã hội địa phương sở tại nơi đặt trụ sở chính và các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức chính trị - xã hội (đối với các Trung tâm thuộc các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, tổ chức chính trị - xã hội quản lý) theo quy định của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.