vanban.org

Điều 5. — Nghị định 184-HĐBT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/1993 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/01/1993 Thay thế: 12-CP · 01/12/1992
Hội đồng Bộ trưởng Ban hành 18/11/1989 Hiệu lực 18/11/1989 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 4 phiên bản · 36 năm
Nghị định số 12-CP Ban hành Quy chế các đoàn của ta ra nước ngoài và các đoàn nước ngoài vào nước ta 1992 · 12-CP
Nghị định số 184-HĐBT Ban hành bản Quy định về quản lý các đoàn của nước ta ra nước ngoài và các đoàn của nước ngoài vào nước ta 1989 · 184-HĐBT
01/01/199312-CPThay thế Đang xem 18/11/1989Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 184-HĐBT › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5.

a) Việc lập kế hoạch, chỉ đạo thực hiện kế hoạch đoàn ra, đoàn vào của từng Bộ, ngành, địa phương là trách nhiệm của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Nhà nước, Thủ trưởng các cơ quan khác thuộc Hội đồng Bộ trưởng và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, đặc khu trực thuộc Trung ương.

Việc lập kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch đoàn ra, đoàn vào thuộc khối Đảng, Đoàn thể, Quốc hội và Hội đồng Nhà nước, Viện kiểm soát Nhân dân tối cao và Toà án nhân dân tối cao thực hiện theo chỉ thị của Ban bí thư và sự hướng dẫn cụ thể của Ban Đối ngoại Trung ương.

b) Căn cứ để lập kế hoạch là phương hướng, nhiệm vụ công tác Đối Ngoại của Đảng và Chính phủ có liên quan đến ngành mình phụ trách; là khả năng bảo đảm về tài chính của năm kế hoạch (Khả năng của ngân sách Nhà nước cấp, của nguồn vốn tự có, của nguồn bên ngoài tài trợ...)

c) Trong quá trình lập kế hoạch, các Bộ, ngành, địa phương cần tham khảo ý kiến của các ngành quản lý chuyên trách về các lĩnh vực an ninh Quốc gia, chính trị đối ngoại, hợp tác kinh tế, hợp tác khoa học kỹ thuật, hợp tác và đầu tư nước ngoài, Thương mại Quốc tế và chế độ chi tiêu tài chính.

d) Kế hoạch đoàn ra, đoàn vào hàng năm của các Bộ, ngành Trung ương và các địa phương phải gửi về Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng và các Bộ Nội vụ, Ngoại giao, Tài chính chậm nhất là ngày 15 tháng 11 năm trước để tổng hợp trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.