Điều 10. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 07 tháng 7 năm 2026. Các mức phụ cấp ưu đãi theo nghề quy định tại Nghị định này được thực hiện kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2026.
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm rà soát, đề xuất Chính phủ điều chỉnh mức phụ cấp ưu đãi theo nghề phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội và khả năng cân đối của ngân sách nhà nước.
3. Việc thực hiện chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề quy định tại Nghị định này chịu sự kiểm tra, thanh tra, kiểm toán của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật. Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với các bộ, ngành, địa phương có liên quan chỉ đạo kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nội dung quy định tại Nghị định này theo quy định của pháp luật.
4. Trường hợp nhà giáo nữ đang nghỉ thai sản và được chi trả phụ cấp ưu đãi theo nghề theo quyết định của cấp có thẩm quyền trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục được chi trả theo quyết định.
5. Bãi bỏ Quyết định số 244/2005/QĐ-TTg ngày 06 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với nhà giáo đang trực tiếp giảng dạy trong các cơ sở giáo dục công lập.
6. Bãi bỏ quy định tại Điều 5 Nghị định số 61/2006/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2006 của Chính phủ về chính sách đối với nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục công tác ở trường chuyên biệt, ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
7. Bãi bỏ quy định về phụ cấp đặc thù đối với nhà giáo dạy tích hợp, nhà giáo là nghệ nhân, người có trình độ kỹ năng nghề cao dạy thực hành và phụ cấp ưu đãi đối với nhà giáo dạy người khuyết tật quy định tại Điều 4, Điều 5, Điều 6, Điều 7, Điều 8 và Điều 9 Nghị định số 113/2015/NĐ-CP ngày 09 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định phụ cấp đặc thù, phụ cấp ưu đãi, phụ cấp trách nhiệm công việc và phụ cấp nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm đối với nhà giáo trong các cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập.
8. Trường hợp các văn bản dẫn chiếu tại Nghị định này được sửa đổi, bổ sung hoặc thay thế thì thực hiện theo các văn bản mới.