Điều 15.
Phân phối lợi nhuận:
Lợi nhuận thực hiện (bao gồm lợi nhuận sản xuất chính, sản xuất phụ và kinh doanh tổng hợp) bằng tổng doanh thu thực hiện trừ (-) tổng giá thành sản phẩm tiêu thụ, trừ (-) toàn bộ giá trị sản phẩm thu bói trong thời kỳ xây dựng cơ bản, sản phẩm tận thu của các tài sản cố định đã hết khấu hao (sau khi đã trừ chi phí) trừ (-) thu quốc doanh và chênh lệch giá (nếu có).
Lợi nhuận thực hiện sau khi trừ (-) 100% phần lợi nhuận vượt kế hoạch do áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh (3 năm đầu) và 70% giá trị tiết kiệm vật tư, số còn lại coi như 100% được phân phối như sau:
Đối với sản xuất chính (chỉ tiêu pháp lệnh hoặc đơn đặt hàng của Nhà nước):
Đối với các xí nghiệp sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao thì nộp ngân sách 40% và để lại xí nghiệp 60%.
Đối với sản xuất phụ và kinh doanh tổng hợp:
Không phân biệt trong kế hoạch hoặc vượt kế hoạch được phân phối theo tỷ lệ:
- Xí nghiệp hoàn thành kế hoạch lợi nhuận sản xuất chính, được để lại 70% và nộp ngân sách 30%.
- Xí nghiệp không hoàn thành kế hoạch lợi nhuận sản xuất chính, được để lại 50% và nộp ngân sách 50%.
Lợi nhuận để lại trích lập các quỹ xí nghiệp bằng toàn bộ số lợi nhuận để lại nói ở phần trên, trừ (-) lãi vay Ngân hàng ngoài kế hoạch tín dụng, trừ (-) các khoản nộp phạt (vi phạm hợp đồng, nợ quá hạn v.v...).
Phân phối lợi nhuận để lại như sau:
- Quỹ phát triển sản xuất ít nhất là 35% (không hạn chế số tối đa), trong đó trích 1% để lập quỹ dự trữ tài chính tập trung ở cấp trên và một tỷ lệ (%) để bổ sung vốn lưu động tuỳ mức độ cần thiết của từng xí nghiệp.
- Số còn lại lập quỹ khen thưởng và phúc lợi, tỷ lệ mỗi quỹ bao nhiêu do Đại hội công nhân, viên chức và Giám đốc xí nghiệp quyết định.