Điều 6. Tổ chức bộ máy làm việc công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em các cấp:
a) Ở một số Bộ có nhiều hoạt động liên quan đến nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em như Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn hoá - Thông tin, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cần có cán bộ chuyên trách giúp đồng chí Bộ trưởng theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thi hành Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em và thực hiện chương trình hành động của Chính phủ về trẻ em.
b) Các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành lập Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em trực thuộc Uỷ ban nhân dân. Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân làm Chủ nhiệm Uỷ ban hoặc có Chủ nhiệm chuyên trách. Thành viên Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quyết định theo hướng dẫn của Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt Nam. Uỷ ban có một Phó Chủ nhiệm chuyên trách và các chuyên viên giúp việc do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quy định.
c) Ở cấp huyện, quận và tương đương thành lập Uỷ ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em trực thuộc Uỷ ban nhân dân do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân làm Chủ nhiệm Uỷ ban; có chuyên viên chuyên trách giúp việc Uỷ ban đặt tại Văn phòng Uỷ ban nhân dân.
d) Ở cấp xã, phường và tương đương thành lập Ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em trực thuộc Uỷ ban nhân dân do Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân làm Trưởng ban, có cán bộ giúp việc kiêm nhiệm trong số cán bộ của xã, phường đã được quy định.
e) Ở các cơ quan, xí nghiệp, công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em cần được đưa vào nội dung chương trình công tác của đơn vị, có cán bộ lãnh đạo đơn vị phụ trách và sử dụng các bộ phận chuyên môn của đơn vị giúp việc.