vanban.org

Điều 11. Các xí nghiệp thủy nông phải cùng các hộ sử dụng nước ký kết hợp đồng kinh tế hàng năm và từng vụ, trong đó ghi rõ diện tích tưới tiêu, các tiêu chuẩn, định mức về chất lượng tưới tiêu, các quy định về thưởng, phạt và thanh toán. Cuối mỗi vụ sản xuất, phải cùng bên sử dụng nước đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng, xác định số thuỷ lợi phí phù hợp với kết quả thực hiện hợp đồng: trên cơ sở đó, lập sổ thu báo cáo Ủ y ban nhân dân huyện (hoặc cấp tương đương) duyệt. Sau khi được Uỷ ban nhân dân huyện duyệt thì tiến hành thu. — Nghị định 112-HĐBT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 19/12/2003 Thay thế: 143/2003/NĐ-CP · 28/11/2003
Hội đồng Bộ trưởng Ban hành 25/08/1984 Hiệu lực 09/09/1984 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 đời nghị định · 5 phiên bản · 42 năm
Nghị định số 143/2003/NĐ-CP Quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi · 143/2003/NĐ-CP
Nghị định số 112-HĐBT Về việc thu thủy lợi phí 1984 · 112-HĐBT
09/09/1984Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Nghị định 112-HĐBT › Điều 11
Đọc toàn văn

Điều 11. Các xí nghiệp thủy nông phải cùng các hộ sử dụng nước ký kết hợp đồng kinh tế hàng năm và từng vụ, trong đó ghi rõ diện tích tưới tiêu, các tiêu chuẩn, định mức về chất lượng tưới tiêu, các quy định về thưởng, phạt và thanh toán. Cuối mỗi vụ sản xuất, phải cùng bên sử dụng nước đánh giá kết quả thực hiện hợp đồng, xác định số thuỷ lợi phí phù hợp với kết quả thực hiện hợp đồng: trên cơ sở đó, lập sổ thu báo cáo Ủ y ban nhân dân huyện (hoặc cấp tương đương) duyệt. Sau khi được Uỷ ban nhân dân huyện duyệt thì tiến hành thu.