Điều 18. Quy định chung về điều kiện năng lực của các tổ chức, cá nhân quản lý chi phí
1. Tổ chức, cá nhân khi thực hiện tư vấn các công việc quản lý chi phí sau đây phải có đủ điều kiện năng lực theo quy định:
a) Lập, thẩm tra tổng mức đầu tư;
b) Đánh giá hiệu quả dự án đầu tư xây dựng công trình;
c) Xác định chỉ tiêu suất vốn đầu tư, định mức, đơn giá xây dựng công trình, chỉ số giá xây dựng;
d) Đo bóc khối lượng xây dựng công trình;
đ) Lập, thẩm tra dự toán xây dựng công trình;
e) Xác định giá gói thầu, giá hợp đồng trong hoạt động xây dựng;
g) Kiểm soát chi phí xây dựng công trình;
h) Lập hồ sơ thanh toán, quyết toán hợp đồng;
i) Lập hồ sơ thanh toán, quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình.
2. Năng lực của các tổ chức tư vấn quản lý chi phí được thể hiện theo 02 hạng và được xác định trên cơ sở số lượng cá nhân có chứng chỉ Kỹ sư định giá xây dựng thuộc tổ chức.
3. Năng lực của các cá nhân tư vấn quản lý chi phí được thể hiện dưới hình thức chứng chỉ Kỹ sư định giá xây dựng.
4. Cá nhân là công chức đang làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước có liên quan đến quản lý chi phí đáp ứng đủ điều kiện quy định của Nghị định này được cấp Chứng chỉ Kỹ sư định giá xây dựng; việc hành nghề tư vấn của công chức phải tuân thủ theo quy định của pháp luật về công chức;
5. Tổ chức tư vấn quản lý chi phí quy định tại Nghị định này bao gồm tổ chức tư vấn chỉ thực hiện những công việc cụ thể trong quản lý chi phí và các tổ chức tư vấn khác có chức năng hành nghề thực hiện những công việc liên quan đến quản lý chi phí và đáp ứng điều kiện năng lực theo quy định.