Điều 20.
1. Việc kiểm tra hoạt động của Doanh nghiệp nhằm hỗ trợ Doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn, giải quyết những vấn đề phát sinh, thực hiện theo đúng quy định của Giấy phép đầu tư và quy định của pháp luật. Việc kiểm tra phải theo đúng các quy định sau:
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ban Quản lý Khu công nghiệp cấp tỉnh (đối với Doanh nghiệp trong Khu công nghiệp) xây dựng kế hoạch và chủ trì tổ chức kiểm tra định kỳ để đánh giá tình hình thực hiện các quy định của Giấy phép đầu tư, đánh giá hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp;
Các Bộ, Cơ quan thuộc Chính phủ xây dựng kế hoạch và chủ trì tổ chức kiểm tra chuyên ngành để đánh giá tình hình thực hiện các quy định của pháp luật liên quan tới lĩnh vực quản lý theo thẩm quyền;
Các Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền tổ chức kiểm tra bất thường khi Doanh nghiệp có dấu hiệu vi phạm pháp luật hoặc khi có sự cố.
2. Cơ quan kiểm tra có trách nhiệm thông báo trước với Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ban Quản lý Khu công nghiệp cấp tỉnh nơi có Doanh nghiệp về kế hoạch và nội dung kiểm tra.
Việc kiểm tra định kỳ, kiểm tra chuyên ngành được thực hiện không quá một lần trong một năm đối với một Doanh nghiệp.
3. Cơ quan kiểm tra định kỳ và kiểm tra chuyên ngành có trách nhiệm thông báo kế hoạch, nội dung kiểm tra cho Doanh nghiệp ít nhất là 7 ngày làm việc trước khi tiến hành kiểm tra. Thời gian kiểm tra tại một Doanh nghiệp tối đa không quá 5 ngày làm việc; trường hợp thời gian kiểm tra đòi hỏi dài hơn thì Cơ quan kiểm tra phải thông báo cho Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh hoặc Ban Quản lý Khu công nghiệp cấp tỉnh.
Mọi hoạt động kiểm tra tuỳ tiện, không đúng pháp luật, lợi dụng kiểm tra gây phiền hà cho Doanh nghiệp đều bị xử lý theo quy định của pháp luật. Doanh nghiệp có quyền khiếu nại về việc kiểm tra nếu thấy việc kiểm tra không đúng với quy định của pháp luật.
4. Trong thời hạn 30 ngày sau khi kết thúc kiểm tra, cơ quan kiểm tra gửi báo cáo kết quả kiểm tra đến Bộ Kế hoạch và Đầu tư và các cơ quan có liên quan.