Điều 15. Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Uỷ ban nhân dân các cấp:
1. Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền đến 200.000 đồng.
c) Tịch thu tang vật, phương tiện để sử dụng vi phạm hành chính có giá trị đến 500.000 đồng.
d) Buộc bồi thường thiệt hại do vi phạm hành chính gây ra đến 500.000 đồng.
đ) Buộc khôi phục lại tình trạng đất như trước khi bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra.
e) Đình chỉ các hoạt động gây cản trở cho việc sử dụng đất.
2. Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Uỷ ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiển đến 10.000.000 đồng.
c) Tịch thu tang vật, phương tiện đã sử dụng vi phạm hành chính.
d) Buộc khôi phục lại tình trạng đất như trước khi bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra, hoặc buộc tháo dỡ công trình xây dựng trái phép.
đ) Buộc bồi thường thiệt hại đến 1.000.00 đồng do vi phạm hành chính gây ra.
e) Đình chỉ các hoạt động gây cản trở cho việc sử dụng đất.
g) Thu hồi đất theo thẩm quyền quy định trong Luật Đất đai.
3. Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính của Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh có quyền:
a) Phạt cảnh cáo.
b) Phạt tiền đến 20.000.000 đồng.
c) Áp dụng tất cả các hình thức phạt bổ sung và biện pháp khác quy định trong Nghị định này và thu hồi đất theo thẩm quyền được quy định trong Luật Đất đai.