vanban.org

Điều 9 — Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 13/07/1981 Thay thế: 3-LCT/HĐNN7 · 04/07/1981
Quốc hội Ban hành 15/07/1960 Hiệu lực 26/07/1980 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 8 phiên bản · 46 năm
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 · 34/2002/QH10
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số Không số 1960 · 20/LCT
26/07/1980Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 20/LCT › Chương II › Điều 9
Đọc toàn văn

Điều 9

Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị đối với những nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị hoặc biện pháp không hợp pháp của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và các cơ quan Nhà nước địa phương.

Viện kiểm sát nhân dân địa phương, khi thấy nghị quyết, quyết định, chỉ thị hoặc biện pháp của cơ quan Nhà nước cùng cấp không hợp pháp thì có quyền yêu cầu sửa chữa. Nếu cơ quan đó không chịu sửa, thì Viện kiểm sát nhân dân địa phương báo cáo lên Viện kiểm sát nhân dân trên một cấp để kháng nghị.

Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, huyện hoặc đơn vị hành chính tương và Viện kiểm sát nhân dân ở các khu vực tự trị, khi thấy nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị hoặc biện pháp của cơ quan Nhà nước cấp trên không hợp pháp thì báo cáo lên Viện kiểm sát nhân dân cấp trên.

Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân địa phương không có quyền trực tiếp huỷ bỏ, sửa đổi hoặc đình chỉ thi hành những nghị quyết, quyết định, thông tư, chỉ thị hoặc biện pháp không hợp pháp của các cơ quan nói trên.

Đối với những yêu cầu và kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan hữu quan có trách nhiệm giải quyết và trả lời một cách nghiêm chỉnh.