vanban.org

Điều 21 — Luật Tổ chức Tòa án nhân dân số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 13/07/1981 Thay thế: 3-LCT/HĐNN7 · 03/07/1981
Quốc hội Ban hành 14/07/1960 Hiệu lực 26/07/1960 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 5 đời luật · 8 phiên bản · 66 năm
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 · 62/2014/QH13
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2002 · 33/2002/QH10
Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 1960
26/07/1960Bản gốcBan hành mới Đang xem
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật Không số › Chương II › Điều 21
Đọc toàn văn

Điều 21

Toà án nhân dân tối cao có thẩm quyền:

- Sơ thẩm những vụ án do pháp luật quy định thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân tối cao và những vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân cấp dưới mà Toà án nhân dân tối cao lấy lên để xử;

- Phúc thẩm những bản án và quyết định của Toà án nhân dân cấp dưới bị chống án hoặc bị kháng nghị;

- Xét lại hoặc giao cho Toà án nhân dân cấp dưới xét lại những bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật những phát hiện có sai lầm;

- Duyệt lại các bản án tử hình trước khi các bản án đó được đem thi hành.

Toà án nhân dân tối cao nghiên cứu những quy định về tổ chức tư pháp, thủ tục tố tụng, luật hình sự, dân sự, phụ trách việc huấn luyện, đào tạo cán bộ Toà án nhân dân và phụ trách việc tuyên truyền giáo dục pháp luật trong nhân dân. Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn các Toà án nhân dân cấp dưới áp dụng pháp luật, đường lối, chính sách và thủ tục tố tụng trong việc xét xử.

Toà án nhân dân tối cao có quyền trình Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội dự án luật, dự án pháp lệnh về những vấn đề thuộc phạm vi công tác chuyên môn của mình.