vanban.org

Điều 16. mới — Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 10/10/1992 Thay thế: Không số · 08/10/1992
Quốc hội Ban hành 22/12/1988 Hiệu lực 04/01/1989 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời luật · 7 phiên bản · 37 năm
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 2002 · 34/2002/QH10
Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1992
Luật Sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân 1988
04/01/1989Bản gốcBan hành mới Đang xem 04/01/1989Luật sửa đổi 1989Chưa hợp nhất
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật Không số › Điều 16
Đọc toàn văn

Điều 16. mới

"Khi thực hiện công tác kiểm sát thi hành án, các Viện kiểm sát nhân dân có quyền:
1. Yêu cầu cơ quan và nhân viên thi hành án:
a) Tự kiểm tra việc thi hành các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân và thông báo kết quả kiểm tra cho Viện kiểm sát nhân dân biết;
b) Cung cấp những tài liệu, văn bản hoặc xuất trình các hồ sơ, sổ sách, giấy tờ có liên quan đến việc thi hành án;
c) Thi hành các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân chưa được thi hành.
2. Kiểm sát tại chỗ việc tuân theo pháp luật của các cơ quan và nhân viên hữu quan trong việc thi hành các bản án và quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án nhân dân; kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan, nhân viên đó trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân đối với việc thi hành án.
3. Kiến nghị hoặc kháng nghị với các cơ quan, nhân viên hữu quan, yêu cầu sửa đổi, bãi bỏ hoặc đình chỉ những văn bản, biện pháp hoặc việc làm vi phạm pháp luật trong việc thi hành án; xử lý kỷ luật người chịu trách nhiệm về việc làm vi phạm pháp luật đó. Trong trường hợp cần thiết thì khởi tố dân sự hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự".