vanban.org

Điều 33. Giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân và thẩm quyền cấp giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân — LUẬT PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI SỐ 53/2024/QH15

Quốc hội Ban hành 28/11/2024 Hiệu lực 01/07/2025 Hết hiệu lực một phần
Dòng đời phiên bản 2 đời luật · 4 phiên bản · 13 năm
LUẬT PHÒNG, CHỐNG MUA BÁN NGƯỜI 2024 · 53/2024/QH15
01/01/202705/2026/QH16Bãi bỏ Đang xem 01/07/2025Bản gốcThay thế
Luật Phòng, chống mua bán người 2011 · 66/2011/QH12
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 53/2024/QH15 › Chương IV › Mục 2 › Điều 33
Đọc toàn văn

Điều 33. Giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân và thẩm quyền cấp giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân

1. Giấy tờ, tài liệu xác nhận nạn nhân là một trong các giấy tờ, tài liệu sau đây:

a) Giấy xác nhận là nạn nhân hoặc giấy xác nhận không phải là nạn nhân;

b) Giấy tờ, tài liệu chứng minh người đó là nạn nhân do cơ quan nước ngoài cấp đã được cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài hoặc Bộ Ngoại giao Việt Nam hợp pháp hóa lãnh sự.

2. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy xác nhận quy định tại khoản 1 Điều này bao gồm:

a) Công an cấp tỉnh quy định tại khoản 4 Điều 27 và khoản 1 Điều 28 của Luật này;

b) Cơ quan giải cứu, tiếp nhận quy định tại các điều từ Điều 28 đến Điều 31 của Luật này;

c) Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân;

d) Cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này.

3. Trường hợp đã cấp giấy xác nhận quy định tại điểm a khoản 1 Điều này nhưng sau đó cơ quan có thẩm quyền quy định tại khoản 2 Điều này chứng minh được việc cấp giấy xác nhận chưa đúng thì có trách nhiệm hủy và cấp lại giấy xác nhận.