vanban.org

Điều 42 — Luật Hôn nhân và gia đình số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/01/2001 Thay thế: 22/2000/QH10 · 09/06/2000
Quốc hội Ban hành 29/12/1986 Hiệu lực 03/01/1987 Hết hiệu lực toàn bộ 12 bản án áp dụng
Dòng đời phiên bản 4 đời luật · 7 phiên bản · 66 năm
Luật Hôn nhân và gia đình 2014 · 52/2014/QH13
Luật Hôn nhân và gia đình 1986
03/01/1987Bản gốcThay thế Đang xem
Luật Hôn nhân và gia đình 1959
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật Không số › Chương 7 › Điều 42
Đọc toàn văn

Điều 42

Khi ly hôn, việc chia tài sản do hai bên thoả thuận, và phải được Toà án nhân dân công nhận. Nếu hai bên không thoả thuận được với nhau thì Toà án nhân dân quyết định.

Việc chia tài sản khi ly hôn, về nguyên tắc, phải theo những quy định dưới đây:

a) Tài sản riêng của bên nào thì vẫn thuộc quyền sở hữu của bên ấy;

b) Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi, nhưng có xem xét một cách hợp lý đến tình hình tài sản, tình trạng cụ thể của gia đình và công sức đóng góp của mỗi bên;

c) Trong trường hợp vợ chồng do còn sống chung với gia đình mà tài sản của bản thân vợ chồng không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình, căn cứ vào công sức của người được chia đóng góp vào việc duy trì và phát triển khối tài sản chung, cũng như vào đời sống chung của gia đình. Lao động trong gia đình được coi như lao động sản xuất;

d) Khi chia tài sản, phải bảo vệ quyền lợi của người vợ và của người con chưa thành niên, bảo vệ lợi ích chính đáng của sản xuất và nghề nghiệp.