vanban.org

Điều 43. Quản lý hệ thống trí tuệ nhân tạo — Luật Công nghiệp công nghệ số số 71/2025/QH15

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2026 Bản hợp nhất mới nhất · phiên bản 2/2 · từ 01/07/2026 Hết hiệu lực (một phần/toàn bộ): 02/2026/QH16 · 23/04/2026
Quốc hội Ban hành 14/06/2025 Hiệu lực 01/01/2026 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 2 phiên bản · mốc là ngày hiệu lực
Luật Công nghiệp công nghệ số 2025 · 71/2025/QH15
01/07/2026116/2025/QH15Thay cụm từ Đang xem 01/01/2026Bản gốcBan hành mới
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 71/2025/QH15 › Chương IV › Điều 43
Đọc toàn văn

Điều 43. Quản lý hệ thống trí tuệ nhân tạo

1. Hệ thống trí tuệ nhân tạo rủi ro cao là hệ thống trí tuệ nhân tạo trong một số trường hợp sử dụng có khả năng gây ra rủi ro, tổn hại nghiêm trọng tới sức khỏe con người, quyền con người, quyền công dân, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, lợi ích công cộng và trật tự, an toàn xã hội, trừ một trong các trường hợp sau:

a) Nhằm thực hiện một hoặc một số công việc cụ thể, tác động trong phạm vi hẹp;

b) Nhằm hỗ trợ con người trong việc tối ưu hóa kết quả công việc;

c) Nhằm thực hiện kiểm tra lỗi của các công việc do con người hoàn thành trước đó và không nhằm mục đích thay thế quyết định của con người.

2. Hệ thống trí tuệ nhân tạo tác động lớn là hệ thống trí tuệ nhân tạo được sử dụng đa mục đích, có số lượng người sử dụng lớn, số lượng tham số lớn, khối lượng dữ liệu lớn.

3. Yêu cầu quản lý đối với hệ thống trí tuệ nhân tạo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này bao gồm:

a) Yêu cầu kỹ thuật;

b) Minh bạch trong lưu trữ và cung cấp thông tin;

c) Quản trị dữ liệu;

d) Giám sát, kiểm tra;

đ) An toàn, an ninh mạng;

e) Yêu cầu cần thiết khác.

4. Chính phủ quy định chi tiết khoản 3 Điều này theo yêu cầu quản lý hệ thống trí tuệ nhân tạo của từng ngành, lĩnh vực.