vanban.org

Điều 52 — Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội số 67-LCT/HĐNN8

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 17/04/1997 Thay thế: Không số · 15/04/1997
Quốc hội Ban hành 15/04/1992 Hiệu lực 18/04/1992 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời luật · 5 phiên bản · 66 năm
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1992 · 67-LCT/HĐNN8
18/04/1992Bản gốcThay thế Đang xem
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1980
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1959
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật 67-LCT/HĐNN8 › Chương VII › Mục 2 › Điều 52
Đọc toàn văn

Điều 52

Khi nhận được biên bản của Tổ bầu cử, Ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình.

Biên bản phải ghi rõ:

- Số đại biểu Quốc hội được ấn định cho đơn vị bầu cử;

- Số người ứng cử;

- Tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử;

- Số cử tri tham gia bỏ phiếu, tỷ lệ so với tổng số cử tri;

- Số phiếu hợp lệ;

- Số phiếu không hợp lệ;

- Số phiếu bầu cho mỗi người ứng cử;

- Danh sách những người trúng cử;

- Những khiếu nại do các Tổ bầu cử đã giải quyết, những khiếu nại do Ban bầu cử giải quyết, những khiếu nại chuyển đến Uỷ ban bầu cử, Hội đồng bầu cử giải quyết.

- Biên bản làm thành ba bản, có chữ ký của Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các thư ký: một bản gửi Hội đồng bầu cử; một bản gửi Uỷ ban bầu cử; một bản gửi về Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, chậm nhất là năm ngày sau ngày bầu cử.