vanban.org

Điều 51 — Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội số Không số

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 18/04/1992 Thay thế: 67-LCT/HĐNN8 · 15/04/1992
Quốc hội Ban hành 18/12/1980 Hiệu lực 18/12/1980 Hết hiệu lực toàn bộ
Dòng đời phiên bản 4 đời luật · 5 phiên bản · 66 năm
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1992 · 67-LCT/HĐNN8
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1980
18/12/1980Bản gốcThay thế Đang xem
Luật Bầu cử Đại biểu Quốc hội 1959
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Luật Không số › Chương VII › Mục 2 › Điều 51
Đọc toàn văn

Điều 51

Khi nhận được biên bản của các tổ bầu cử, ban bầu cử kiểm tra các biên bản đó và lập biên bản xác định kết quả bầu cử ở đơn vị bầu cử của mình.

Biên bản phải ghi rõ:

- Số đại biểu Quốc hội ấn định cho đơn vị bầu cử;

- Số người ra ứng cử;

- Tổng số cử tri trong đơn vị bầu cử;

- Số cử tri đã đi bầu, tỷ lệ so với tổng số cử tri;

- Số phiếu hợp lệ;

- Số phiếu không hợp lệ;

- Số phiếu trắng;

- Số phiếu bầu cho mỗi người ra ứng cử;

- Danh sách những người trúng cử;

- Những khiếu nại do các tổ bầu cử đã giải quyết, những khiếu nại do ban bầu cử giải quyết, những khiếu nại chuyển đến Hội đồng bầu cử giải quyết.

Biên bản làm thành hai bản, có chữ ký của trưởng ban, phó trưởng ban và các thư ký: một bản gửi Hội đồng bầu cử, một bản gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính cấp tương đương.