vanban.org

Điều 12 — Lệnh 12-L/CTN

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Hết hiệu lực toàn bộ · từ 01/07/2004
Chủ tịch nước Ban hành 26/04/1993 Hiệu lực 26/04/1993 Hết hiệu lực toàn bộ
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Lệnh 12-L/CTN › Chương II › Mục 1 › Điều 12
Đọc toàn văn

Điều 12

1- Khi kết luận có vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát quân sự kháng nghị với cơ quan, đơn vị, tổ chức của quân đội cùng cấp và cấp dưới, các đơn vị cơ sở trực thuộc cấp trên đóng tại địa phương chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật; yêu cầu đình chỉ việc thi hành, sửa đổi hoặc bãi bỏ các văn bản pháp quy; loại trừ nguyên nhân gây ra vi phạm pháp luật; yêu cầu xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính đối với người vi phạm. Nếu có dấu hiệu tội phạm thì Viện kiểm sát quân sự khởi tố về hình sự.

2- Cơ quan, đơn vị, tổ chức hữu quan có trách nhiệm trả lời kháng nghị của Viện kiểm sát quân sự quy định tại khoản 1 Điều này trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị. Trong trường hợp cơ quan, đơn vị, tổ chức hữu quan cấp trên nhận được kháng nghị của Viện kiểm sát quân sự đối với cấp dưới của mình thì thời hạn trả lời là ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được kháng nghị. Nếu cơ quan, đơn vị, tổ chức hữu quan không nhất trí với nội dung kháng nghị, thì đề nghị Viện kiểm sát quân sự cấp trên trực tiếp phải xem xét. Viện kiểm sát nhân dân cấp trên trực tiếp phải xem xét và trả lời trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đề nghị.

3- Khi kiểm sát việc tuân theo pháp luật, Viện kiểm sát quân sự kiến nghị với cơ quan, đơn vị, tổ chức hữu quan áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật.