Điều 23. Chuyển giao thẩm quyền về việc tuyên bố người mất năng lực hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi
1. Nếu Tòa án của Bên ký kết này xác định rằng có căn cứ để tuyên bố một người là công dân của Bên ký kết kia đang cư trú hoặc lưu trú trên lãnh thổ nước đó mất năng lực hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi, thì thông báo việc này cho Tòa án tương ứng của Bên ký kết kia biết.
2. Trong trường hợp khẩn cấp, Tòa án của Bên ký kết nơi người đó có nơi cư trú hoặc lưu trú, có thể tiến hành các biện pháp cần thiết theo pháp luật nước mình để bảo vệ người đó hoặc tài sản của người đó. Thông tin về các biện pháp này được gửi ngay cho Tòa án tương ứng của Bên ký kết mà người đó là công dân. Những biện pháp này sẽ có hiệu lực cho đến khi Tòa án của Bên ký kết mà người đó là công dân tiến hành các biện pháp đó.
3. Nếu Tòa án của Bên ký kết kia được thông báo theo quy định tại khoản 1 Điều này mà tuyên bố giao việc thực hiện những hành vi tố tụng tiếp theo cho Tòa án nơi người đó cư trú hoặc nơi lưu trú không đưa ra ý kiến gì trong thời hạn ba tháng, thì Tòa án nơi người đó cư trú hoặc lưu trú có thể xem xét ra quyết định tuyên bố người đó bị hạn chế năng lực hành vi hoặc mất năng lực hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi theo quy định của pháp luật nước mình, nếu pháp luật của Bên ký kết mà người đó là công dân cũng quy định các căn cứ như vậy để tuyên bố hạn chế năng lực hành vi hoặc mất năng lực hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi. Quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi, bị hạn chế năng lực hành vi được gửi cho Tòa án tương ứng của Bên ký kết kia.