Điều 4. Quy định chuyển tiếp
1. Người nộp thuế là cá nhân, đại diện hộ gia đình được cấp số định danh cá nhân theo quy định của pháp luật về căn cước công dân vẫn tiếp tục sử dụng mã số thuế đã được cấp cho đến khi cơ quan thuế thông báo về việc người nộp thuế sử dụng số định danh cá nhân là mã số thuế.
2. Cơ quan thuế thông báo về việc người nộp thuế sử dụng số định danh cá nhân thay cho mã số thuế đã được cấp khi người nộp thuế thực hiện đăng ký thay đổi thông tin giấy tờ của cá nhân sang số định danh cá nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 10 và khoản 4 Điều 11 Thông tư số 105/2020/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 5, khoản 6 Điều 1 Thông tư này), hoặc cơ quan thuế tự động chuyển đổi mã số thuế đã cấp sang số định danh cá nhân để sử dụng thay cho mã số thuế theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều này.
3. Kể từ thời điểm người nộp thuế nhận được Thông báo cá nhân sử dụng số định danh cá nhân là mã số thuế, người nộp thuế sử dụng số định danh cá nhân thay cho mã số thuế khi thực hiện các thủ tục về thuế, bao gồm cả việc điều chỉnh, bổ sung nghĩa vụ thuế phát sinh theo mã số thuế đã cấp trước đó. Đồng thời, cơ quan thuế theo dõi, quản lý toàn bộ dữ liệu của người nộp thuế, dữ liệu đăng ký giảm trừ gia cảnh của người phụ thuộc bằng số định danh cá nhân.
4. Cơ quan thuế chuẩn hóa dữ liệu mã số thuế đã cấp cho cá nhân với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư như sau:
a) Trường hợp thông tin họ và tên, số căn cước công dân/chứng minh nhân dân, ngày-tháng-năm sinh của cá nhân trong Cơ sở dữ liệu thuế khớp đúng với thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư:
Cơ quan thuế tự động chuyển đổi mã số thuế đã cấp sang số định danh cá nhân để sử dụng thay cho mã số thuế đã cấp.
Cơ quan thuế gửi Thông báo cá nhân sử dụng số định danh cá nhân là mã số thuế theo mẫu số 41/TB-DKT ban hành kèm theo Thông tư này đến tài khoản giao dịch thuế điện tử của người nộp thuế hoặc địa chỉ thư điện tử hoặc số điện thoại người nộp thuế đã đăng ký với cơ quan thuế. Trường hợp người nộp thuế không có tài khoản giao dịch thuế điện tử, địa chỉ thư điện tử, số điện thoại thì cơ quan thuế gửi Thông báo cá nhân sử dụng số định danh cá nhân là mã số thuế theo mẫu số 41/TB-DKT ban hành kèm theo Thông tư này cho người nộp thuế theo địa chỉ hiện tại của người nộp thuế.
b) Trường hợp thông tin họ và tên, số căn cước công dân/chứng minh nhân dân, ngày-tháng-năm sinh của cá nhân trong Cơ sở dữ liệu thuế khớp đúng với thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, nhưng thông tin về địa chỉ thường trú, địa chỉ hiện tại khác nhau:
Cơ quan thuế thực hiện cập nhật thông tin địa chỉ theo thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và thông báo cho người nộp thuế biết cùng với thông báo cá nhân sử dụng số định danh cá nhân là mã số thuế. Cá nhân kiểm tra lại thông tin địa chỉ trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, trường hợp không chính xác, cá nhân thực hiện điều chỉnh thông tin với cơ quan công an theo quy định của pháp luật về căn cước công dân, đồng thời đăng ký thay đổi thông tin với cơ quan thuế theo quy định tại Thông tư này để đảm bảo thông tin đồng bộ.
c) Trường hợp thông tin họ và tên, số căn cước công dân/chứng minh nhân dân, ngày-tháng-năm sinh của cá nhân trong Cơ sở dữ liệu thuế không xác định được thông tin tương ứng trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư:
Cơ quan thuế thông báo cho người nộp thuế theo mẫu số 01/TB-BSTT-NNT tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định số 126/2020/NĐ-CP để người nộp thuế kiểm tra, đối chiếu:
- Trường hợp thông tin họ và tên, số căn cước công dân/chứng minh nhân dân, ngày-tháng-năm sinh trong Cơ sở dữ liệu thuế đã khớp đúng với thông tin trên căn cước công dân nhưng thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư không khớp đúng, cá nhân liên hệ cơ quan công an để cập nhật, điều chỉnh thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo quy định của pháp luật về căn cước công dân. Sau khi các thông tin trên của cá nhân được cập nhật, điều chỉnh tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ quan thuế tiếp tục thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều này.
- Trường hợp thông tin họ và tên, số căn cước công dân/chứng minh nhân dân, ngày-tháng-năm sinh trong Cơ sở dữ liệu thuế không khớp đúng với thông tin trên căn cước công dân, cá nhân thực hiện đăng ký thay đổi thông tin theo quy định tại khoản 3 Điều 10 và khoản 4 Điều 11 Thông tư số 105/2020/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 5, khoản 6 Điều 1 Thông tư này). Nếu thông tin trên căn cước công dân không khớp đúng với thông tin trong Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cá nhân liên hệ cơ quan công an để được cập nhật, điều chính tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư trước khi làm thủ tục thay đổi thông tin đăng ký thuế.
d) Trường hợp cá nhân đã được cấp mã số thuế theo giấy tờ khác căn cước công dân/chứng minh nhân dân, hoặc cá nhân đã được cấp mã số thuế theo chứng minh nhân dân 9 số:
Cá nhân thực hiện đăng ký thay đổi thông tin giấy tờ của cá nhân sang số định danh cá nhân theo quy định tại khoản 3 Điều 10 và khoản 4 Điều 11 Thông tư số 105/2020/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 5, khoản 6 Điều 1 Thông tư này) để chuyển sang sử dụng số định danh cá nhân thay cho mã số thuế đã được cấp. Nếu cá nhân chưa được cấp số định danh cá nhân, cá nhân liên hệ cơ quan công an để được cấp số định danh cá nhân theo quy định của pháp luật về căn cước công dân trước khi làm thủ tục thay đổi thông tin đăng ký thuế. Trong thời gian này, người nộp thuế được tiếp tục sử dụng mã số thuế đã được cấp theo quy định tại khoản 1 Điều này.
5. Trường hợp người nộp thuế đã được cấp nhiều hơn 01 (một) mã số thuế, cơ quan thuế sử dụng số định danh cá nhân để hợp nhất dữ liệu thuế của người nộp thuế, đồng thời yêu cầu người nộp thuế thực hiện kê khai điều chỉnh thông tin đăng ký giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc (nếu bị trùng), điều chỉnh hồ sơ khai thuế nếu việc sử dụng nhiều mã số thuế để kê khai nộp thuế, kê khai giảm trừ gia cảnh ảnh hưởng đến nghĩa vụ thuế phải nộp theo quy định của pháp luật thuế.
6. Trong quá trình triển khai thực hiện nếu có vướng mắc, đề nghị tổ chức, cá nhân phản ánh kịp thời về Bộ Tài chính để nghiên cứu giải quyết./.