Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/6/2021 của Bộ Tài chính
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 7 như sau:
“3. Hộ khoản đã được cơ quan thuế thông báo số thuế khoản phải nộp từ đầu năm thì hộ khoản thực hiện nộp thuế theo thông báo. Trường hợp hộ khoản đã được thông báo số thuế từ đầu năm nhưng trong năm ngừng hoặc tạm ngừng kinh doanh thì cơ quan thuế thực hiện điều chỉnh số thuế phải nộp theo hướng dẫn tại điểm b.4 khoản 4 Điều 13 Thông tư số 40/2021/TT-BTC ngày 01/06/2021 của Bộ Tài chính. Trường hợp hộ khoản mới ra kinh doanh trong năm (kinh doanh không đủ 12 tháng) thì hộ khoản thuộc diện phải nộp thuế GTGT, thuế TNCN nếu có doanh thu kinh doanh trong năm trên 100 triệu đồng; hoặc thuộc diện không phải nộp thuế GTGT, thuế TNCN nếu có doanh thu kinh doanh trong năm từ 100 triệu đồng trở xuống”
2. Sửa đổi điểm d, điểm e khoản 1 Điều 8 như sau:
“d) Tổ chức là chủ sở hữu sàn giao dịch thương mại điện tử thực hiện việc khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân trên cơ sở uỷ quyền theo quy định của pháp luật dân sự.
e) Tổ chức, cá nhân khác khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân theo uỷ quyền của pháp luật dân sự.”
3. Sửa đổi điểm c khoản 1 Điều 9 như sau:
“c) Cá nhân chỉ có hoạt động cho thuê tài sản và thời gian cho thuê không trọn năm, nếu phát sinh doanh thu cho thuê từ 100 triệu đồng/năm trở xuống thì thuộc đối tượng không phải nộp thuế GTGT, không phải nộp thuế TNCN. Trường hợp bên thuê trả tiền thuê tài sản trước cho nhiều năm thì mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định cá nhân không phải nộp thuế GTGT và không phải nộp thuế TNCN là doanh thu trả tiền một lần được phân bổ theo năm dương lịch.”
4. Sửa đổi tên Chương IV như sau:
“TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN THUẾ VÀ TỔ CHỨC, CÁ NHÂN CÓ LIÊN QUAN TRONG VIỆC QUẢN LÝ THUẾ ĐỐI VỚI HỘ KINH DOANH, CÁ NHÂN KINH DOANH”
5. Bổ sung khoản 5 vào Điều 17 như sau:
“5. Xây dựng giải pháp, lộ trình cung cấp thông tin theo hình thức điện tử từ các Sàn giao dịch thương mại điện tử đến cơ quan thuế nhằm mục đích xây dựng cơ sở dữ liệu về quản lý thuế theo rủi ro, đảm bảo yêu cầu về bảo mật thông tin theo quy định, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Sàn giao dịch thương mại điện tử.”
6. Bổ sung Điều 19a như sau:
“Điều 19a. Trách nhiệm của tổ chức là chủ sở hữu Sàn giao dịch thương mại điện tử
Trong trường hợp tổ chức là chủ sở hữu Sàn giao dịch thương mại điện tử không thực hiện khai thuế thay, nộp thuế thay cho cá nhân kinh doanh thông qua Sàn theo uỷ quyền của pháp luật dân sự thì có trách nhiệm cung cấp thông tin của cá nhân kinh doanh thông qua Sàn theo quy định của pháp luật như: họ tên người bán hàng; số định danh cá nhân hoặc chứng minh nhân dân hoặc căn cước công dân hoặc hộ chiếu; mã số thuế; địa chỉ; số điện thoại liên lạc; doanh thu bán hàng qua Sàn; tài khoản ngân hàng của người bán.
Việc cung cấp thông tin được thực hiện định kỳ hàng quý chậm nhất vào ngày cuối cùng của tháng đầu quý sau hoặc theo từng lần phát sinh theo yêu cầu của cơ quan thuế bằng phương thức điện tử theo quy định về giao dịch điện tử trong lĩnh vực thuế hoặc kết nối trực tiếp với cơ quan thuế nếu đáp ứng được các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật.”
7. Bổ sung Điều 19b như sau:
“Điều 19b. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có liên quan khác
Tổ chức, cá nhân có liên quan khác có trách nhiệm phối hợp với Cơ quan thuế trong công tác quản lý thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế hiện hành.”