Điều 4. Việc tiếp nhận vốn vay và quản lý sử dụng vốn vay được phân định như sau:
Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước cùng với Bộ Thuỷ Lợi, Bộ Tài chính, Ngân hàng đầu tư và phát triển sắp xếp vốn và danh mục các công trình thuỷ lợi đầu tư bằng vốn vay nước ngoài, cân đối vốn đầu tư trong nước với vốn nước ngoài, vốn trả nợ để đưa vào kế hoạch hàng năm và kế hoạch dài hạn trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phê duyệt.
Ngân hàng Nhà nước theo dõi việc nhận vốn vay, lịch trả nợ, định kỳ báo cáo Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng về tình hình vay và trả nợ.
Bộ Tài chính theo dõi việc nhận vốn vay vào ngân sách Nhà nước, cấp vốn cho công trình thuỷ lợi theo kế hoạch được duyệt hoặc chuyển vốn sang Ngân hàng đầu tư và phát triển để cho vay.
Bộ Tài chính cùng với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng đầu tư và phát triển, Bộ Thuỷ lợi bố trí vốn và kế hoạch trả nợ hàng năm trình Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng duyệt và thực hiện trả nợ với nước ngoài.
Ngân hàng đầu tư và phát triển được trực tiếp nhận vốn vay với nước ngoài hoặc nhận vốn vay qua Ngân hàng Nhà nước để làm nguồn vốn tín dụng đầu tư. Tổ chức cho vay và thu hồi vốn đầu tư để trả nợ nước ngoài hoặc chuyển vốn cho Bộ Tài chính trả nợ.
Bộ Thuỷ lợi phối hợp với Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước, Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố, các ngành liên quan xác định mục tiêu, bố trí vốn và danh mục các công trình thuỷ lợi thuộc vốn vay nước ngoài trong cả nước vào kế hoạch đầu tư để trình Hội đồng Bộ trưởng xem xét.
Trên cơ sở kế hoạch được duyệt, Bộ Thuỷ lợi chuẩn bị nội dung kinh tế - kỹ thuật của các dự án đầu tư, phối hợp với các ngành liên quan tìm nguồn vay và tham gia đàm phán với bên cho vay theo từng dự án; đồng thời, phối hợp với Bộ Tài chính và Ngân hàng đầu tư và phát triển xác định những hạng mục đầu tư bằng vốn ngân sách và bằng vốn tín dụng đầu tư trong từng dự án.
Trong quá trình nhận vốn và thi công công trình, Bộ Thuỷ lợi có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra, quản lý về kỹ thuật chuyên ngành và vốn đầu tư, báo cáo quyết toán công trình theo quy định hiện hành.