Điều 2.
Nhập khẩu xăng dầu:
1- Để bảo đảm nhu cầu xăng dầu cho nền kinh tế quốc dân, Tổng Công ty xăng dầu được phép:
a) Trực tiếp nhập khẩu xăng dầu, kể cả dầu hoả và dầu mỡ kỹ thuật từ các nguồn:
- Nguồn nhập khẩu tập trung của Nhà nước theo Hiệp định ký kết giữa Chính phủ ta và Chính phủ các nước khác (trừ các Hiệp định hợp tác chuyên ngành).
- Nguồn nhập khẩu của Tổng Công ty bằng vốn ngoại tệ tự có hoặc đi vay; liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước theo đúng pháp luật và theo nguyên tắc tự hoàn trả vốn, lãi vay.
b) Mua dầu thô, thuê chế biến rồi đưa sản phẩm chế biến về nước.
c) Mua và bán xăng dầu trên thị trường quốc tế; tái xuất khẩu xăng dầu nếu xét thấy có lợi.
d) Làm đại lý độc quyền bán xăng dầu và làm dịch vụ cho các hãng nước ngoài.
đ) Làm đại lý độc quyền nhập khẩu xăng dầu theo sự uỷ thác của các chủ hàng trong và ngoài nước.
e) Được cử đại diện của mình trong cơ quan Thương vụ nước ta tại các nước có quan hệ mua bán xăng dầu với khối lượng lớn trên cơ sở tự chịu chi phí cho hoạt động của đại diện của mình ở nước ngoài.
2- Bộ Kinh tế đối ngoại chuyển giao nhiệm vụ nhập khẩu xăng dầu gồm cả dầu hoả và dầu mỡ kỹ thuật của Tổng Công ty xuất nhập khẩu khoảng sản sang Tổng Công ty xăng dầu (Bộ Vật tư) cùng nhân sự tương ứng và các hồ sơ liên quan.
Tổng Công ty xăng dầu chịu sự quản lý Nhà nước của Bộ Kinh tế đối ngoại về các hoạt động ngoại thương của mình.
3- Các chủ hàng trong nước có xăng dầu nhập khẩu theo Hiệp định hợp tác chuyên ngành hoặc có ngoại tệ muốn nhập khẩu thêm xăng dầu, đều phải uỷ thác cho Tổng Công ty xăng dầu tiếp nhận và nhập khẩu.