vanban.org

Điều 5. — Quyết định 136/CT

Đang đối chiếu hiệu lực… So khớp phiên bản với cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật
Còn hiệu lực · từ 06/05/1988 Phiên bản mới nhất trong dòng đời trên hệ thống Không bị thay thế bởi văn bản nào
Hội đồng Bộ trưởng Ban hành 06/05/1988 Hiệu lực 06/05/1988 Còn hiệu lực
Toàn văn
Bạn đang xem một phần của Quyết định 136/CT › Chương II › Điều 5
Đọc toàn văn

Điều 5.

a) Hàng hoá, hành lý ký gửi máy bay đi theo hành khách hoặc gửi máy bay chậm, hàng không dân dụng tiếp nhận (nếu là hàng đi) hoặc trao trả (nếu là hàng đến) trực tiếp cho hành khách, sau khi đã làm xong các thủ tục vận chuyển và thông qua sự kiểm soát của hải quan.

b) Riêng bưu kiện, bưu phẩm, Tổng cục Hải quan, Tổng cục bưu điện và Tổng cục Hàng không dân dụng thoả thuận bằng một quy định riêng để những bưu kiện, bưu phẩm được làm đầy đủ thủ tục, nhanh chóng, thuận tiện, chặt chẽ, trách nhiệm rõ ràng để khiếu nại với quốc tế nếu xảy ra mất mát, hư hỏng mà không thuộc phạm vi trách nhiệm của Việt Nam.

c) Hàng hoá, hành lý đi theo đoàn đông người có thể tổ chức kiểm tra ở một nơi khác do Tổng cục Hải quan quy định. Đối với hàng đi, hải quan kiểm tra, niêm phong trước khi chuyển ra ga làm thủ tục vận chuyển hàng không, đưa lên máy bay. Đối với hàng đến, sau khi làm thủ tục vận chuyển hàng không thì hải quan niêm phong, áp tải đến địa điểm kiểm tra để làm thủ tục hải quan.

d) Hàng hoá quá cảnh phải để trên máy bay. Trường hợp cần phải bốc dỡ khỏi máy bay, phải được sự đồng ý của Giám đốc cảng hàng không và chịu sự giám sát của hải quan. Trên nguyên tắc, những hàng hoá này phải bốc xếp lại lên máy bay để chở đi, trường hộp không chở đi nữa, phải làm thủ tục nhập khẩu.