vanban.org

Quyết định 99/2022/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND TP. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Tuyên án 02/12/2022 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Văn T phải trả cho nguyên đơn bà Lê Thị M số tiền 445.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ngày 03/8/2022, nếu bị đơn chưa thanh toán xong khoản tiền nói trên thì phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thanh toán xong. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu 10… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "bà Lê Thị M; bà Phạm Thị H, ông Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Văn T phải trả cho nguyên đơn bà Lê Thị M số tiền 445.
  • Căn cứ chính? Điều 13 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 14 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

________________________
Bản án số: 99/2022/DS-PT
Ngày: 02/12/2022
V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Trúc Lâm.

Các Thẩm phán:

1. Ông Ngô Chịu;

2. Bà Lê Thị Thái Lan.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ý Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên: Ông Phan Văn Công - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 12 năm 2022. Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 78/2022/TLPT- DS ngày 07 tháng 10 năm 2022, về Tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 102/2022/QĐ-PT ngày 10 tháng 11 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 161/2022/QĐ-PT ngày 23 tháng 11 năm 2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị M, sinh năm 1973; Địa chỉ: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Bị đơn: Bà Phạm Thị H, sinh năm 1974 và ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971; Địa chỉ: Khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Người kháng cáo: bị đơn bà Phạm Thị H, ông Nguyễn Văn T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị M trình bày: Ngày 18/3/2022, bà M có cho vợ chồng bà Phạm Thị H mượn số tiền 430.000.000đồng. Khi mượn tiền chỉ có bà H viết và ký vào giấy mượn tiền. Sau khi mượn tiền, bà M nhiều lần yêu cầu bà H trả lại số tiền đã mượn nhưng bà H không thực hiện việc trả nợ.

Nay khởi kiện yêu cầu bà H, ông T phải trả số tiền 430.000.000đồng đã mượn và tiền lãi theo quy định pháp luật kể từ ngày 18/3/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ gốc. Trường hợp vợ chồng bà H và ông T trả hết số nợ gốc trong vòng một tháng thì không yêu cầu tính lãi.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bị đơn bà Phạm Thị H trình bày: Thừa nhận có mượn và còn nợ bà Lê Thị M số tiền 430.000.000đồng và đồng ý sẽ trả đủ cho bà M số tiền còn nợ trên. Hiện nay làm ăn khó khăn xin trả dần cho đến khi thanh toán hết nợ. Mục đích mượn tiền để chi trả cho các khoản vay khác trước đó để chi tiêu sinh hoạt đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong gia đình và làm ăn.

Việc mượn tiền chỉ một mình bà H là người trực tiếp mượn của bà M nên bà H sẽ có trách nhiệm trả cho bà M số tiền trên không liên quan gì đến ông T. Về khoản tiền lãi bà M yêu cầu, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét không thanh toán tiền lãi.

Bị đơn ông Nguyễn Văn T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không có lý do và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 31/2022/DSST ngày 02/8/2022 của TAND thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên đã quyết định:

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463; 466; khoản 2 Điều 357 và khoản 1 Điều 469 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 13 và Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Văn T phải trả cho nguyên đơn bà Lê Thị M số tiền 445.999.153 đồng (nợ gốc 430.000.000 đồng và tiền lãi 15.999.153 đồng).

Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, nghĩa vụ thi hành án, quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 16/8/2022, bị đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn Bà Lê Thị M giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

- Bị đơn Bà Phạm Thị H, sinh năm 1974 và ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1971 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

- Ý kiến của Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm: Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa tiến hành tố tụng đúng quy định của pháp luật, các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử Căn cứ khoản 1 Điều 308 BLTTDS giữ nguyên bản án sơ thẩm;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào ý kiến các bên đương sự, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn bà Phạm Thị H vẫn tiếp tục thừa nhận có vay của bà Lê Thị M số tiền 430.000.000 đồng như cấp sơ thẩm xét xử; Tuy nhiên, việc vay nợ là chỉ có một mình bà, không có chồng là ông Nguyễn Văn T vay; Do đó, kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét để một mình bà trả nợ.

Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Trong giấy mượn tiền ngày 18/3/2022 chỉ có bà H ký tên xác nhận, nhưng mục đích bà H mượn tiền để chi tiêu sinh hoạt đáp ứng nhu cầu thiết yếu trong gia đình và làm ăn chung của bà H, ông T như bà H đã trình bày tại phiên tòa sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm bà H cung cấp 01 USB và 01 giấy mượn tiền gốc, bà H cho rằng đây là chứng cứ việc bà vay tiền của nguyên đơn với lãi suất cao. Tuy nhiên, qua thẩm tra các tài liệu, chứng cứ này không thể hiện việc bà H đã trả bao nhiêu tiền lãi, với lãi suất như thế nào. Mặt khác, đây là khoản giao dịch trong thời kỳ hôn nhân, do đó bà H và ông T cùng phải có nghĩa vụ chung trả nợ như cấp sơ thẩm quyết định là có căn cứ. Bà H, ông T không có tài liệu khác để chứng minh cho nội dung kháng cáo nên chấp nhận ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa giữ nguyên án sơ thẩm là phù hợp pháp luật.

Về án phí: Bị đơn bà H, ông T kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí DSPT.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của BLTTDS giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 463; 466; khoản 2 Điều 357 và khoản 1 Điều 469 Bộ luật dân sự;

Căn cứ Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 2 Điều 26; khoản 1 Điều 13 và Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Phạm Thị H và ông Nguyễn Văn T phải trả cho nguyên đơn bà Lê Thị M số tiền 445.999.153 đồng (nợ gốc 430.000.000 đồng và tiền lãi 15.999.153 đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ngày 03/8/2022, nếu bị đơn chưa thanh toán xong khoản tiền nói trên thì phải trả lãi theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chưa thanh toán xong.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu 10.919.983 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 300.000đ án phí DSPT nhưng được trừ vào số tiền đã tạm ứng án phí DSPT 300.000đ tại biên lại số 0006413 ngày 17/8/2022 tại Chi cục THADS thị xã Đông Hòa; Ông T, bà H còn phải nộp 10.919.983 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn lại cho nguyên đơn bà Lê Thị M số tiền 10.600.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001922 ngày 15/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ