- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Đ, sinh ngày 24 tháng 11 năm 1975.
- Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 11 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, TP.ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 98/2017/QĐ-TA | Hải Châu, ngày 9 tháng 11 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Hà Thị Thanh Nga - Chủ trì phiên họp
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Phương Trang
Ngày 09.11.2017, tại Cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 90/2017/QĐ-TA ngày 01.11.2017 đối với:
Họ và tên: Ông Đ (tên gọi khác: Bé) - Giới tính: Nam
Sinh ngày 24.11.1975. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 07/12;
Nghề nghiệp: không; Nguyên quán: H, Đà Nẵng.
Nơi ĐKNKTT: phường B, quận H, TP. Đà Nẵng.
Chỗ ở hiện nay: phường B, quận H, TP. Đà Nẵng
Nhân thân: Năm 2003, 2007 cai nghiện tại Trung tâm GD-DN 05-06 thành phố Đà Nẵng.
Tiền án: không
Tiền sự: Năm 2016 cai nghiện tại Trung tâm GD-DN 05-06 thành phố Đà Nẵng
Con ông H (sinh năm 1950) và bà B (đã chết).
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Ngọc Dương - Chức vụ: Phó phòng Lao động-Thương binh và Xã hội quận H, thành phố Đà Nẵng
2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng: Ông Nguyễn Văn Quốc - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đề nghị thì thấy:
Đ là người nghiện ma túy, bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2003, loại ma túy sử dụng là ma túy tổng hợp, hình thức sử dụng là hút, đã 03 lần tập trung cai nghiện tại cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng nhưng vẫn tái phạm. Ngày 13/10/2017, Đ tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường B mời về làm việc, lập hồ sơ thử test. Kết quả dương tính với ma túy tổng hợp (hàng đá). Tại bảng tường trình và biên bản lấy lời khai ngày 15.10.2017, Đ đã thừa nhận bản thân có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Ủy ban nhân dân phường B đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 15.10.2017 Chủ tịch UBND phường B ra Quyết định số 337/QĐ-UBND đưa Đ vào cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 24/10/2017, Phòng tư pháp quận H ban hành văn bản số 217/TB-PTP về kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ.
Tại Văn bản số 263/PLĐTBXH-PCTNXH ngày 30/10/2017 của Phòng LĐ-TB&XH quận H đề nghị Tòa án nhân dân Quận H ban hành Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Đ, thời gian cai nghiện bắt buộc theo Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận H giữ nguyên quan điểm của mình, đề nghị đề nghị Tòa án nhân dân quận H ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tập trung cai nghiện đối với Đ.
Người bị đề nghị là Đ đã thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đang trong tình trạng nghiện, xin thời gian chữa bệnh ngắn để sớm hòa nhập cộng đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng pháp luật. Đồng thời đề nghị Tòa án nhân dân quận H giải quyết theo hướng đồng ý theo đề nghị quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận H đối với ông Đ.
Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận H, ý kiến của người bị đề nghị là ông Đ; sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính.
XÉT THẤY:
Xét tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị: Hồ sơ đề nghị đã đầy đủ bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy của Đ; Bản tường trình của người nghiện ma túy; cơ quan lập hồ sơ đã thông báo và cho Đ đọc hồ sơ; hồ sơ đã được Trưởng phòng Tư pháp quận H kiểm tra tính pháp lý; Văn bản của Trưởng phòng Lao động-Thương binh và Xã hội quận H, thành phố Đà Nẵng về việc đề nghị xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Như vậy, hồ sơ xét đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của đối tượng Đ đã đầy đủ tính pháp lý đảm bảo theo quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính: Các Điều 3, 4, 8, 9, 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/ NĐ-CP của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Mặc dù biết rõ tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng nhưng Đ vẫn cố ý sử dụng. Bản thân ông Đ đã có 03 lần tập trung cai nghiện tại cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng nhưng vẫn tiếp tục sử dụng ma túy, lần vi phạm này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính. Xét để tạo điều kiện cho ông Đ chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề nên cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận H, quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với ông Đ.
Trong quá trình lập hồ sơ cũng như tại phiên họp, ông Đ xác nhận có sử dụng ma túy, thành thật hối lỗi, hứa không tái phạm. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính sẽ được Tòa án áp dụng khi quyết định về thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 6, khoản 2 Điều 9, các Điều, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Các Điều 3, 4, 8, 9, 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/ NĐ-CP của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Áp dụng các Điều 19, 20, 22 và 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông Đ, sinh ngày 24 tháng 11 năm 1975.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 15 (mười lăm) tháng, kể từ ngày ông Đ bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 15/10/2017). Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân quận H có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội phối hợp với Công an quận H, thành phố Đà Nẵng có nhiệm vụ thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Ông Đ - Cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng - Phòng LĐTBXH quận H - Công an quận H - VKSND quận H - Công an phường B - UBND phường B - Lưu hồ sơ | THẨM PHÁN Hà Thị Thanh Nga |