vanban.org

Quyết định 97/QĐ-TA

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung T.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mƣời tám) tháng, kể từ ngày ngƣời bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ (30/9/2019) để đƣa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. 3/ Ngƣời bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến ngh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Trung T"
  • Tòa quyết gì? 1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung T.
  • Căn cứ chính? Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 10 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƢƠNG
Số: 97/QĐ – TA
Thủ Dầu Một, ngày 13 tháng 12 năm 2019

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT, TỈNH BÌNH DƢƠNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1. Thẩm phán - Chủ trì phiên họp: Ông Lê Minh Đạo.

2. Thư ký phiên họp: Ông Phạm Anh Duy.

Ngày 13 tháng 12 năm 2019, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng, tiến hành mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 98/QĐ - TA ngày 06 tháng 12 năm 2019 đối với:

Họ và tên: Lê Trung T.

Giới tính: Nam.

Sinh năm 1976.

CMND số 28099xxxx.

Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không.

Nguyên quán: Tỉnh Bình Dƣơng.

Hộ khẩu thƣờng trú: phƣờng H, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng.

Chỗ ở: Không có nơi cƣ trú ổn định.

Nghề nghiệp: Không.

Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 25/10/2000, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 121/HSST; Ngày 08/9/2011, Tòa án nhân dân thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dƣơng xử phạt 40 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo bản án hình sự sơ thẩm số 187/HSST.

Con ông Lê Trung Th và bà Tô Thị B.

Có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1/ Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đỗ Duy V – Cán bộ Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M.

2/ Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một: Ông Lê Thị Hoài – Kiểm sát viên.

NHẬN THẤY:

Theo hồ sơ đề nghị xem xét áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung T do Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M chuyển đến thể hiện:

Ngày 30/9/2019, Công an phƣờng P, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng phát hiện Lê Trung T sử dụng trái phép chất ma tuý. Căn cứ phiếu trả lời về việc xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 30/9/2019 của Trung tâm Y tế thành phố M thể hiện: Lê Trung T có nghiện ma túy, loại Methamphetamine, Heroin.

Do đó, Chủ tịch UBND phƣờng P đã ban hành Quyết định về việc lập hồ sơ đề nghị đƣa Lê Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và Quyết định giao Lê Trung T cho Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Bình Dƣơng quản lý.

Ngày 30/9/2019, Công an phƣờng P đã ban hành Thông báo số 02/TB - CAP vể việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thông báo đã đƣợc giao cho Lê Trung T.

Ngày 29/11/2019, Trƣởng Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M đã ban hành văn bản số 683/LĐ.TBXH về việc đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Dầu Một xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung T.

Đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội thành phố M phát biểu quan điểm: Lê Trung T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Do không có nơi cƣ trú ổn định nên đề nghị Toà án đƣa Lê Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian từ 18 tháng đến 24 tháng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Dầu Một phát biểu quan điểm: Hồ sơ đề nghị xem xét, áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung T đúng theo qui định của Luật xử lý vi phạm hành chính. Quá trình thụ lý giải quyết và tại phiên họp, Tòa án đã thực hiện đúng theo các qui định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Do Lê Trung T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý, đã đƣợc cơ quan có thẩm quyền xác định có nghiện ma tuý. Bản thân Lê Trung T không có nơi cƣ trú ổn định nên việc Trƣởng Phòng Lao động

- Thƣơng binh và Xã hội thành phố M đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là phù hợp. Đề nghị Toà án chấp nhận theo lời đề nghị của Phòng lao động thƣơng binh xã hội.

Người bị đề nghị phát biểu: Ông Lê Trung T sử dụng trái phép chất ma tuý từ năm 2005. Ngày 30/9/2019, Lê Trung T bị Công an phƣờng P phát hiện sử dụng trái phép chất ma tuý, loại Methamphetamine, Heroin. Lê Trung T thống nhất với lời đề nghị của Phòng lao động thƣơng binh xã hội và không có ý kiến gì.

XÉT THẤY:

Do Lê Trung T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý nên Công an phƣờng P lập biên bản vi phạm hành chính. Việc lập biên bản vi phạm hành chính của Công an phƣờng P đối với Lê Trung T là phù hợp theo Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính, đƣợc hƣớng dẫn tại Điều 6 Nghị định 81/2013/NĐ-CP ngày 19/7/2013 của Chính phủ.

Theo phiếu trả lời kết quả ngày 30/9/2019 của Trung tâm y tế thành phố M thể hiện Lê Trung T có nghiện ma tuý, loại ma tuý là Methamphetamine, Heroin.

Lê Trung T có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là ngày 30/9/2019 tính đến ngày Toà án mở phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa Lê Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là còn trong thời hiệu, theo qui định tại Điểm d Khoản 2 Điều 6 của Luật xử lý vi phạm hành chính, đƣợc hƣớng dẫn tại Điều 4 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Theo hồ sơ thể hiện Lê Trung T có đăng ký hộ khẩu thƣờng trú tại phƣờng H, thành phố M, tỉnh Bình Dƣơng. Tuy nhiên, qua tra cứu hiện Công an phƣờng H xác định Lê Trung T không thƣờng xuyên sinh sống tại địa phƣơng. Do đó có căn cứ xác định Lê Trung T không có nơi cƣ trú ổn định theo Điều 2 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ.

Xét thấy, Hồ sơ đề nghị xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung T là phù hợp theo qui định tại Điều 95, 96 và Điều 103 của Luật xử lý vi phạm hành chính, các Điều 8, 9, 10 và Điều 11 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Nghị định số 136/2016/NĐ – CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ - CP.

Hồ sơ đã đƣợc Trƣởng phòng tƣ pháp kiểm tra và xác định hồ sơ đã đảm bảo tính pháp lý, theo qui định tại Điều 12 của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ; Nghị định số 136/2016/NĐ – CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ - CP.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Lê Trung T xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe và sự phát triển lành mạnh của con ngƣời cũng nhƣ ảnh hƣởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến những tội phạm hình sự khác. Do đó, cần thiết phải đƣa Lê Trung T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc một thời gian để chữa bệnh, lao động, học văn hóa và học nghề nhằm giúp Lê Trung T trở thành ngƣời tốt và có ích cho xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ: Lê Trung T có thái độ thành khẩn khai báo, thành thật hối lỗi. Đây là tình tiết giảm nhẹ theo qui định tại Khoản 2 Điều 9 của Luật xử lý vi phạm hành chính.

Từ những phân tích trên, xét thấy đề nghị của Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung T trong thời gian 18 tháng đến 24 tháng là có căn cứ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đƣa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Trung T.

2/ Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (mƣời tám) tháng, kể từ ngày ngƣời bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính bị tạm giữ (30/9/2019) để đƣa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc.

3/ Ngƣời bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày Quyết định đƣợc công bố.

4/ Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5/ Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thƣơng binh và Xã hội thành phố M có trách nhiệm thi hành quyết định này.

Cỡ chữ