- Tranh chấp gì? "Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông A (Cu Bợ), sinh ngày 21.
- Căn cứ chính? Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 11 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…; Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H, TP.ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số:97/2017/QĐ-TA | Hải Châu, ngày 9 tháng 11 năm 2017 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN H
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Bà Hà Thị Thanh Nga- Chủ trì phiên họp
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Phương Trang
Ngày 09.11.2017, tại Cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 88/2017/QĐ-TA ngày 27.10.2017 đối với:
Họ và tên: A (tên gọi khác: Cu Bợ) - Giới tính: Nam
Sinh ngày 21.02.1995. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 06/12; Nghề nghiệp: không; Nguyên quán: Huyện D, Quảng Nam.
Nơi ĐKNKTT: Tổ 16, phường C, quận H, TP. Đà Nẵng.
Chỗ ở hiện nay: không có nơi cư trú ổn định.
Nhân thân: Năm 2013 cai nghiện tại Trung tâm GD-DN 05-06 3 tháng
Tiền án: không; Tiền sự: không.
Con ông D (sinh năm 1965) và bà T (sinh năm 1960).
Có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Trần Ngọc Dương - Chức vụ: Phó phòng Lao động-Thương binh và Xã hội quận H, thành phố Đà Nẵng
2. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng: Ông Nguyễn Văn Quốc - Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Theo các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ đề nghị thì thấy:
A là người nghiện ma túy, bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2013, loại ma túy sử dụng là ma túy tổng hợp (hàng đá), hình thức sử dụng là hút. Ngày 14/10/2017, A tiếp tục có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường C mời về làm việc, lập hồ sơ thử test. Kết quả dương tính với ma túy tổng hợp. Tại bảng tường trình và biên bản lấy lời khai ngày 15.10.2017, A đã thừa nhận bản thân có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. UBND phường C đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 15.10.2017 Chủ tịch UBND phường C ra Quyết định số 615/QĐ-UBND đưa A (không có nơi cư trú ổn định) vào cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ngày 19/10/2017, Phòng tư pháp quận H ban hành văn bản số 212/TB-PTP về kết quả kiểm tra tính pháp lý của hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A.
Tại Văn bản số 258/PLĐTBXH-PCTNXH ngày 24/10/2017 của Phòng LĐ-TB&XH quận H đề nghị Tòa án nhân dân Quận H ban hành Quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A, thời gian cai nghiện bắt buộc theo Điều 95 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Tại phiên họp, đại diện Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận H giữ nguyên quan điểm của mình, đề nghị đề nghị Tòa án nhân dân quận H ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tập trung cai nghiện đối với A.
Người bị đề nghị là A đã thừa nhận có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đang trong tình trạng nghiện, xin thời gian chữa bệnh ngắn để sớm hòa nhập cộng đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H, thành phố Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là đúng pháp luật. Đồng thời đề nghị Tòa án nhân dân quận H giải quyết theo hướng đồng ý theo đề nghị quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận H đối với ông A.
Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội quận H, ý kiến của người bị đề nghị là ông A; sau khi đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận H phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính.
XÉT THẤY:
Xét tính hợp pháp của hồ sơ đề nghị thì thấy: Hồ sơ đề nghị đã đầy đủ bản tóm tắt lý lịch; tài liệu chứng minh tình trạng nghiện ma túy của Hoàng Thắng Lưu; tài liệu xác minh đối tượng không có nơi cư trú ổn định; bảng tường trình của người nghiện ma túy; cơ quan lập hồ sơ đã thông báo cho ông A đọc hồ sơ; hồ sơ đã được Phòng tư pháp quận H kiểm tra tính pháp lý; Văn bản về việc đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc của Phòng Lao động - Thương Binh và Xã hội quận H.
Như vậy, hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A đã đầy đủ tính pháp lý, đảm bảo theo quy định tại các Điều 6, 95, 96, 103, 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Các Điều 3, 4, 8, 9, 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/ NĐ-CP của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Xét hành vi của A thì thấy: A là người nghiện ma túy, bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2013, loại ma túy sử dụng là ma túy tổng hợp, hình thức sử dụng là hút. Ngày 14/10/2017, A sử dụng trái phép chất ma túy, bị Công an phường C mời về làm việc, lập hồ sơ thử test. Kết quả dương tính với ma túy tổng hợp (hàng đá). Bản thân A đã công nhận hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của mình, hình thức sử dụng là hút. Hiện nay, A vẫn trong tình trạng nghiện. Qua xác minh, A có hộ khẩu thường trú tại phường C, quận H, TP. Đà Nẵng nhưng thường xuyên vắng mặt tại địa phương, hiện nay không có nơi cư trú ổn định.
Xét, A là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên, chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường nhưng không có nơi cư trú ổn định, hồ sơ đề nghị đã đầy đủ tính pháp lý. Như vậy, có đủ cơ sở để chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội quận H, cần áp dụng Khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính để ra quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với A.
Trong quá trình lập hồ sơ cũng như tại phiên họp, A xác nhận có sử dụng ma túy, thành thật hối lỗi, hứa không tái phạm. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính sẽ được Tòa án áp dụng khi quyết định về thời hạn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Áp dụng Điều 6, khoản 2 Điều 9, các Điều, 95, 96, 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Các Điều 3, 4, 8, 9, 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/ NĐ-CP của Chính Phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Áp dụng các Điều 19, 20, 22 và 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với ông A (Cu Bợ), sinh ngày 21.02.1995.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày ông A bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc (ngày 15/10/2017). Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân quận H có quyền kháng nghị quyết định trong thời hạn 03 (ba) ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động - Thương binh và xã hội phối hợp với Công an quận H, thành phố Đà Nẵng có nhiệm vụ thi hành quyết định này.
| Nơi nhận: - Ông A - Cơ sở xã hội Bầu Bàng thành phố Đà Nẵng - Phòng LĐTBXH quận H - Công an quận H - VKSND quận H - Công an phường C - UBND phường C | THẨM PHÁN Hà Thị ThanhNga |