- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 96/2022/HS-ST Ngày 29-9-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Mai
Ông Nguyễn Văn Hạnh
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thuỷ - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Bích Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 92/2022/TLST-HS ngày 15 tháng 9 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 266/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Đặng Duy K, sinh năm 1988 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 92 HL, phường HL, quận HB, thành phố Hải Phòng; nơi ở: Không nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn T và bà Lê Minh Hằ (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Hải (đã ly hôn); có 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Có 02 tiền án đều đã được xóa án tích: Bản án số 123/2007/HSST ngày 23/8/2007 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 15 tháng tù về tội Gây rối trật tự công cộng; Bản án số 171/2012/HSST ngày 24/10/2012 Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 30 tháng tù về tội Cướp giật tài sản; bị tạm giữ ngày 22/6/2022; tạm giam ngày 28/6/2022; có mặt.
2. Nguyễn Văn T, sinh năm 1985 tại Thái Bình. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Thái Bình; nơi ở: Không nơi ở cố định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Quang N (đã chết) và bà Nguyễn Thị N; có vợ là Vũ Thị P (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự, nhân thân: có 01 tiền án đã được xóa án tích: Bản án số 61/2018/HSST ngày 23/8/2007 Tòa án nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy; bị tạm giữ ngày 22/6/2022; tạm giam ngày 28/6/2022; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 22/6/2022 Tổ công tác Công an phường DHK đang làm nhiệm vụ trên địa bàn phường, khi đi đến khu vực căn nhà hoang thuộc tổ 22, phường DHK thấy 01 xe máy Biển kiểm soát 29F1 - 7084 dựng phía ngoài cửa, đã tiến hành kiểm tra căn nhà thì phát hiện Đặng Duy K đang ngồi cạnh hộp bao thuốc lá Thăng Long bằng sắt trên mặt hộp có chất bột màu trắng nghi là ma túy. Trong lúc đang kiểm tra thì có Nguyễn Văn T chạy từ gian phòng bên cạnh ra. K và T đều khai nhận số chất bột màu trắng là ma túy Heroine vừa chung tiền mua về để sử dụng. Tổ công tác đã thu giữ số ma túy Heroine cùng vỏ bảo thuốc lá Thăng Long bằng sắt; 01 xe máy Biển kiểm soát 29F1 - 7084. Sau đó dẫn giải K, T cùng toàn bộ tang vật về Công an phường DHK, quận Lê Chân, Hải Phòng lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Tại bản kết luận giám định số 297/MT/PC 09 ngày 25/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng thu giữ của Đặng Duy K và Nguyễn Văn T gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,14 gam, là loại Heroine.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Đặng Duy K khai nhận: Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 22/6/2022 K điều khiển xe máy biển kiểm soát 29F1 - 7084 đến khu vực nhà hoang ở đường Hoàng Minh Thảo thuộc Tổ 22, phường DHK, Lê Chân, Hải Phòng tìm gặp Nguyễn Văn T (là bạn quen biết ngoài xã hội) rủ góp mỗi người 50.000 đồng để mua ma túy về sử dụng chung. T đồng ý và đưa cho K 50.000 đồng. K nhận tiền rồi điều khiển xe máy đến khu vực đầu ngõ 193 Hồ Sen, Lê Chân, Hải Phòng để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây K gặp và mua của người nữ giới khoảng 65 tuổi, lưng gù đang ngồi ở đầu ngõ 100.000 đồng ma túy Heroine. Người nữ giới nhận tiền rồi đưa cho K 01 gói giấy bạc bên trong có chứa ma túy Heroine. K nhận gói ma túy và cầm ở tay trái điều khiển xe máy đi về căn nhà hoang gặp T. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày, K bỏ gói ma túy Heroine vừa mua được ra đổ lên vỏ hộp bao thuốc lá Thăng Long bằng sắt, lúc này T đứng cạnh nhìn thấy rồi đi vào trong gian phòng bên cạnh thì lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như đã nêu ở trên.
Nguyễn Văn T khai nhận: Khoảng hơn 08 giờ ngày 22/6/2022 T đang ngủ ở căn nhà hoang trên đường Hoàng Minh Thảo thuộc Tổ 22, DHK, Lê Chân thì có Đặng Duy K (tức Cò) điều khiển xe máy đến gặp T và hỏi “có làm tý không”, T hiểu là “có sử dụng ma túy không” thì T đồng ý. K và T thống nhất mỗi người góp 50.000 đồng để mua ma túy về cùng sử dụng. T đưa 50.000 đồng cho K để K điều khiển xe máy đi mua ma túy, còn T ở lại căn nhà hoang đợi. Đến khoảng 09 giờ 15 phút cùng ngày T thấy K về và lấy ra 01 gói giấy bạc rồi đổ ma túy Heroine ra vỏ hộp thuốc lá Thăng Long bằng sắt. Sau đó T đi sang gian phòng bên cạnh để đi vệ sinh. Khi T vừa sang thì nghe thấy tiếng ồn ào chạy ra xem thì thấy lực lượng Công an đến kiểm tra, bắt giữ như đã nêu trên.
Đối với chiếc xe máy Biển kiểm soát 29F1 - 7084, quá trình điều tra chưa xác được chủ sở hữu hợp pháp, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân tiếp tục xác minh, làm rõ, xử lý sau.
Đối với người nữ giới bán ma túy cho K, không xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có căn cứ để xử lý.
Bản Cáo trạng số 101/CT-VKS ngày 15/9/2022, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố các bị cáo Đặng Duy K và Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đặng Duy K mức án từ 21 đến 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn T mức án từ 18 đến 21 tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Đề nghị không phạt bổ sung đối với cả hai bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu, tiêu hủy lượng ma túy còn lại sau giám định; tịch thu tiêu hủy 01 vỏ hộp bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bằng sắt.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện là đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về căn cứ xác định tội danh và điều luật áp dụng đối với các bị cáo:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 09 giờ 15 phút ngày 22/6/2022, tại khu vực căn nhà hoang thuộc tổ 22 phường DHK, Đặng Duy K và Nguyễn Văn T đã có hành vi cùng nhau bàn bạc, góp tiền mua chung 0,14 gam heroin với mục đích để cùng nhau sử dụng, chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang. Hành vi của các bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự như Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
Tính chất của vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Nhân thân bị cáo K có 02 tiền án, bị cáo T có 01 tiền án, các tiền án này tuy đều đã được xoá án nhưng cho thấy các bị cáo không lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Vì vậy cần phải có hình phạt nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi và đặc điểm nhân thân của các bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
- Vai trò của các bị cáo trong đồng phạm:
Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo K là người khởi xướng việc mua ma tuý về sử dụng, đồng thời là người trực tiếp đi mua ma tuý. Bị cáo T tiếp nhận ý chí, đồng ý góp tiền để K đi mua ma tuý về sử dụng chung. Vì vậy, vai trò của bị cáo K cao hơn so với bị cáo T nên hình phạt của bị cáo K cao hơn.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại phiên toà và tại cơ quan điều tra, các bị cáo đều khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình nên xem xét cho cả hai bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, các bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Xét các bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cả hai bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
Đối với số ma túy cùng toàn bộ vỏ bao bì còn lại sau giám định đã được niêm phong trong phong bì thư là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 vỏ hộp bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bằng sắt hiện không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu, tiêu hủy.
- Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đặng Duy K 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22 tháng 6 năm 2022.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Nguyễn Văn T 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 22 tháng 6 năm 2022.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong số 297MT/PC09 đựng số ma tuý còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao gói của mẫu vật; 01 vỏ hộp bao thuốc lá nhãn hiệu Thăng Long bằng sắt.
(Theo biên bản giao, nhận tài sản vật chứng ngày 15/9/2022 giữa Công an quận Lê Chân và Chi cục Thi hành án dân sự Quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).
Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND thành phố; - VKSND quận Lê Chân; - Công an quận Lê Chân; - Phòng PV06; PC10; - THA hình sự; - Chi cục THADS quận Lê Chân; - Sở tư pháp; - UBND nơi bị cáo cư trú; - Lưu: HS, VT. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Mai Nguyễn Văn Hạnh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hà THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Ngọc Hà |