vanban.org

Quyết định 96/2020/QĐST-VDS — Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó

TAND huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 10/12/2020 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

361; 367; 369; 370; 371; 372; 382; 383; 384; 385 và Điều 386 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Ngân hàng N về việc “Thông Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và quản lý tài sản của người đó — án dân sự — "Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú"
  • Tòa quyết gì? 361; 367; 369; 370; 371; 372; 382; 383; 384; 385 và Điều 386 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 370 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 64 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tỉnh Thanh Hóa

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 96/2020/QĐST-VDSHoằng Hóa, ngày 10 tháng 12 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

Về việc: Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú.

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOẰNG HÓA, TỈNH THANH HÓA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Nguyễn Ngọc Thắng.

Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện

Hoằng Hóa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tham gia phiên họp:

Ông Nguyễn Hùng Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa mở

phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 99/2020/TLST-VDS ngày 10 tháng 11 năm 2020 về việc “Yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 179/2020/QĐST-VDS ngày 01 tháng 12 năm 2020, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Ngân hàng N.

Địa chỉ: 198 TQK, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc H, Chức vụ: Phó Trưởng phòng giao

dịch H - Ngân hàng N - Chi nhánh T. (Theo Giấy ủy quyền số 23/UQ-VCB.TH ngày 10/11/2020).

Địa chỉ: Số 09, đường H, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Lê Trung H, sinh năm 1976.

Bà Lê Thị T, sinh năm 1985.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn 1,

xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:

Theo đơn yêu cầu ngày 06/10/2020, bản tự khai và ý kiến tại phiên họp sơ thẩm của

người yêu cầu thể hiện:

Ông Lê Trung H, giấy CMND số 172748… do Công an Thanh Hóa cấp ngày

28/04/2014 và vợ là bà Lê Thị T, giấy CMND số 172746… do Công an Thanh Hóa cấp ngày 15/11/2002. Hộ khẩu thường trú: Thôn 1, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa có vay vốn tại Ngân hàng N - Chi nhánh T theo hợp đồng cho vay theo hạn mức số 0…/2018HT/HĐTD ngày 09/07/2018. Toàn bộ dư nợ vay theo hợp đồng đã quá hạn. Ông H và bà Tâm không thực hiện nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng N. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ tìm kiếm nhưng không có thông tin gì, qua xác minh tại địa phương thì ông H và bà T không có mặt tại nơi cư trú từ ngày 04/11/2019.

Để đảm bảo quyền lợi hợp pháp theo quy định của pháp luật Ngân hàng N yêu cầu

Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Lê Trung H, sinh năm 1976 và bà Lê Thị T, sinh năm 1985. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 1, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Theo nội dung biên bản xác minh ngày 25/11/2020, Công an xã N, huyện H xác

nhận: “Ông Lê Trung H, sinh 1976 và bà Lê Thị T, sinh năm 1985 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 1, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa theo Sổ hộ khẩu số 57075…, do Công an xã N lập ngày 30/7/2014, số đăng ký thường trú quyển số 0…, tờ số …. Hiện nay ông H, bà T không có mặt tại địa chỉ theo đăng ký hộ khẩu thường trú. Việc ông H, bà T vắng mặt tại nơi cư trú kể từ ngày 04/11/2019 và địa chỉ nơi cư trú mới của ông H, bà T không xác định được. Việc vắng mặt của ông H, bà T không báo cáo chính quyền địa phương và Công an xã N.

Theo ý kiến của bà Phạm Thị T (Mẹ đẻ ông H): Vợ chồng ông H, bà T ở riêng, nhà

ở độc lập không ở chung nhà với ông bà T. Vợ chồng ông H, bà T có vay tiền Ngân hàng N, số tiền vay bao nhiêu tôi không biết. Do làm ăn thua lỗ nên vợ chồng ông H, bà T phải bỏ đi làm ăn ở xa, địa chỉ cụ thể tôi không được biết. Ông H có số điện thoại nhưng tôi không liên lạc được. Ông H và bà T đi từ tháng 11 năm 2019 cho đến nay không có liên lạc về cho tôi nên tôi không biết hiện nay ở đâu.

Tại phiên họp đại diện theo ủy quyền của người yêu cầu giữ nguyên yêu cầu, đề

nghị Tòa án quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú với ông Lê Trung H, bà Lê Thị T và không yêu cầu quản lý tài sản của người thông báo tìm kiếm vắng mặt.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên họp:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng theo

quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết Thẩm phán đã áp dụng các biện pháp yêu cầu đương sự cung

cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ chứng minh, đảm bảo tính khách quan. Thời hạn tố tụng được thực hiện đúng theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự, đảm bảo tôn trọng quyền yêu cầu của đương sự.

Về quan điểm giải quyết: Áp dụng khoản 1 Điều 370; Điều 383 Bộ luật Tố tụng dân

sự; Điều 64 Bộ luật Dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận đơn yêu cầu của Ngân hàng N quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Lê Trung H, sinh năm 1976 và bà Lê Thị T, sinh năm 1985. Nơi cư trú cuối cùng: Thôn 1, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

Ngân hàng N chịu lệ phí sơ thẩm việc dân sự theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra

tại phiên họp; ý kiến của đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng N - Chi nhánh T yêu cầu thông báo tìm kiếm

người vắng mặt tại nơi cư trú đối với ông Lê Trung H và bà Lê Thị T, nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn 1, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Căn cứ vào khoản 2 Điều 27, khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hoằng Hóa.

[2] Về nội dung yêu cầu:

Ông Lê Trung H và bà Lê Thị T có vay vốn tại Ngân hàng N - Chi nhánh T theo

hợp đồng cho vay theo hạn mức số 0…/2018HT/HĐTD ngày 09/07/2018. Ông H và bà T không thực hiện nghĩa vụ trả nợ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng N. Ngân hàng đã nhiều lần liên hệ tìm kiếm nhưng không có thông tin gì, yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú đối với ông Lê Trung H và bà Lê Thị T.

Theo nội dung xác minh ngày 25/11/2020 của Công an xã N, huyện H xác nhận:

Ông Lê Trung H, sinh năm 1976 và bà Lê Thị T, sinh năm 1985, có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn 1, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Hiện nay ông H, bà T không có mặt tại địa chỉ theo đăng ký hộ khẩu thường trú. Việc ông H, bà T vắng mặt tại nơi cư trú kể từ ngày 04/11/2019 và địa chỉ nơi cư trú mới của ông H, bà T không xác định được.

Theo xác minh với bà Phạm Thị Tg: Vợ chồng ông H, bà T có vay tiền Ngân hàng

N, do làm ăn thua lỗ nên vợ chồng ông H, bà T phải bỏ đi làm ăn ở xa, địa chỉ cụ thể không được biết. Ông H, bà T đi từ tháng 11 năm 2019 cho đến nay không có liên lạc, không biết hiện nay ở đâu.

Do đó có căn cứ xác định ông Lê Trung H và bà Lê Thị T đã bỏ đi biệt tích từ ngày

04/11/2019 đến nay đã hơn 06 tháng, nhưng vẫn không có tin tức xác thực về ông Lê Trung H và bà Lê Thị T đang làm gì, ở đâu. Nên có căn cứ chấp nhận đơn yêu cầu của Ngân hàng N và đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa tại phiên họp, về quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi tại cư trú đối với ông Lê Trung H và bà Lê Thị T là phù hợp với quy định của pháp luật.

[3] Người yêu cầu không yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp quản lý tài sản của

người thông báo tìm kiếm người vắng mặt nơi cư trú, do đó Tòa án không xem xét.

[4] Về lệ phí: Ngân hàng N là người yêu cầu giải quyết việc dân sự phải chịu lệ phí

sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 27; điểm a khoản 2 Điều 35; điểm b khoản 2 Điều 39;

361; 367; 369; 370; 371; 372; 382; 383; 384; 385 và Điều 386 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 64 Bộ luật Dân sự;

Khoản 1 Điều 37 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của Ngân hàng N về việc “Thông

báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú”.

2. Thông báo tìm kiếm ông Lê Trung H, sinh năm 1976 và bà Lê Thị T, sinh năm

1985; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn 1, xã N, huyện H, tỉnh Thanh Hóa vắng mặt tại nơi cư trú.

Trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Tòa án ra Quyết định thông báo tìm kiếm

người vắng mặt tại nơi cư trú, thông báo này phải được đăng trên một trong các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp, Cổng thông tin điện tử của Tòa án, Ủy ban nhân dân tỉnh (nếu có) và phát sóng trên Đài phát thanh hoặc Đài truyền hình của trung ương ba lần trong ba ngày liên tiếp.

Chi phí cho việc đăng, phát thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú do

người yêu cầu là Ngân hàng N chịu.

3. Quyết định thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú này đương nhiên

hết hiệu lực trong trường hợp ông Lê Trung H và bà Lê Thị T trở về.

4. Lệ phí: Ngân hàng N phải chịu 300.000 đồng tiền lệ phí sơ thẩm giải quyết việc

dân sự nhưng được trừ vào tiền 300.000 đồng tạm ứng lệ phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng lệ phí Tòa án số AA/0010153 ngày 06/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoằng Hóa.

5. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định

này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoằng Hóa có quyền kháng nghị quyết định này

trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa có quyền kháng nghị quyết định này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ