vanban.org

Quyết định 95/2024/QĐST-DS — Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích

TAND huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 19/11/2024 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Lê Huy T.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1984, Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa mất tích. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Lê Huy T phải nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "mất tích"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Lê Huy T.
  • Căn cứ chính? Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 68 Bộ luật Dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỌ XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 95/2024/QĐST-DSThọ Xuân, ngày 19 tháng 11 năm 2024

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ

V/v yêu cầu tuyên bố một người mất tích

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HÓA

Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Ông Lê Minh Tiến

Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên họp: Ông Lê Văn Tân - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số: 51/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc yêu cầu tuyên bố một người mất tích, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số: 15/2024/QĐST-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc dân sự: Anh Lê Huy T, sinh năm 1981, địa chỉ: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1984, Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ

Tại đơn yêu cầu và bản tự khai, người yêu cầu là anh Lê Huy T trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị G có quan hệ là vợ chồng, lấy nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K, tỉnh Đắk Lắk vào ngày 12/9/2003. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Trong qúa trình chung sống, vào năm 2011 anh có đi làm ăn ở xa, còn chị G ở nhà chăm sóc con cái. Tuy nhiên đến năm 2013 không hiểu vì lý do gì, chị G lại bỏ nhà ra đi đến nay không về; khi đi không nói gì với anh và gia đình. Anh và gia đình đã tìm kiếm chị G ở nhiều nơi nhưng không biết chị G hiện đang ở đâu, làm gì. Đến nay anh vẫn không có tin tức gì về chị G, nên anh làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân giải quyết tuyên bố chị Nguyễn Thị G là người mất tích và có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đối với chị Nguyễn Thị G theo quy định.

Tại quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 19/2024/QĐ-TA ngày 21/6/2024 Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân đã thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị G theo đúng quy định, cụ thể: Tại Báo Nhân dân các số 25065, 25066, 25067 ra vào các ngày 25, 26, 27 tháng 6 năm 2024, cũng như Đài tiếng nói Việt Nam phát lúc 17 giờ 30 phút các ngày 29, 30 tháng 6 năm 2024 và ngày 01 tháng 7 năm 2024 đã nhắn tin, phát tin tìm kiếm chị Nguyễn Thị G theo quy định, nhưng đến nay đã hơn 04 (bốn) tháng kể từ ngày đăng, phát thông báo lần đầu tiên vẫn không có tin tức về chị Nguyễn Thị G.

Tại phiên họp, Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến như sau:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Thư ký đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người yêu cầu đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết: Căn cứ khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, Điều 149, khoản 2, 3 Điều 367, Điều 387, 388, 389 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1, 3 Điều 68 Bộ luật Dân sự,

1. Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Lê Huy T. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân tuyên bố chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1984, Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa là người mất tích.

2. Về lệ phí giải quyết việc dân sự và chi phí đăng tin tìm kiếm: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Anh Lê Huy T1 yêu cầu tuyên bố chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1984, Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa là người mất tích. Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, xác định việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị G được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên họp không có lý do, nên căn cứ khoản 3 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành mở phiên họp.

Về nội dung yêu cầu: Anh Lê Huy T và chị Nguyễn Thị G có quan hệ là vợ chồng hợp pháp. Trong quá trình chung sống với nhau tại xã T, huyện T, thì giữa vợ chồng có xảy ra mâu thuẫn, nên từ năm 2013 chị G đã bỏ nhà đi khỏi địa phương, không có tin tức. Từ khi chị G bỏ đi đến nay đã hơn 2 năm, anh T (là chồng) đã tìm kiếm nhiều nơi nhưng không có tin tức gì về chị G, không biết chị G hiện đang ở đâu, làm gì, còn sống hay đã chết, nên anh T làm đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân tuyên bố chị G là người mất tích và có đơn yêu cầu Tòa án thông báo tìm kiếm đối với chị G. Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân đã thụ lý việc dân sự và ra Quyết định thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích đối với chị Nguyễn Thị G, đồng thời đã thực hiện các thủ tục thông báo tìm kiếm theo quy định trên Đài tiếng nói Việt Nam và trên B. Ngày đăng, phát thông báo tìm kiếm chị Nguyễn Thị G lần đầu tiên là ngày 25/6/2024, tính đến nay đã hơn 04 (bốn) tháng nhưng vẫn không có tin tức gì về chị Nguyễn Thị G.

Từ những phân tích nêu trên, xác định: Chị Nguyễn Thị G đã bỏ đi biệt tích từ năm 2013 đến nay là hơn 2 năm; Anh Lê Huy T (là chồng) đã áp dụng đầy đủ các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, nhưng vẫn không có tin tức xác thực về chị Nguyễn Thị G. Do đó, có căn cứ chấp nhận đơn yêu cầu của anh Lê Huy T và ý kiến đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân tại phiên họp, tuyên bố chị Nguyễn Thị G mất tích, là phù hợp.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Lê Huy T phải nộp lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự theo quy định,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39, khoản 1 Điều 149, khoản 2, 3 Điều 367, Điều 370, Điều 371, Điều 372, Điều 389 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1, 3 Điều 68 Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

- Chấp nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự của anh Lê Huy T.

Tuyên bố chị Nguyễn Thị G, sinh năm 1984, Nơi ĐKHKTT và nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích: Thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa mất tích.

- Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự: Anh Lê Huy T phải nộp 300.000 đồng lệ phí sơ thẩm giải quyết việc dân sự, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng lệ phí 300.000 đồng, anh T đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005134 ngày 20/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân. Như vậy, anh Lê Huy T đã nộp đủ.

- Quyền kháng cáo: Người yêu cầu giải quyết việc dân sự được quyền kháng cáo quyết định trong hạn 10 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn 10 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tòa án ra quyết định.

- Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ