- Tranh chấp gì? "TPD"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TPD.
- Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HT TỈNH TN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 95/2018/QĐ-TA | HT, ngày 16 tháng 11 năm 2018 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HT, TỈNH TN
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán: Ông Lâm Tấn Nhàn.
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị Bích Vân.
Ngày 16 tháng 11 năm 2018, tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh TN, tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 93/2018/QĐ-TA ngày 07 tháng 11 năm 2018 đối với:
Họ và tên: Anh TPD; Giới tính: Nam; Sinh ngày 03/4/1993; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Hộ khẩu thường trú: Số 17, tổ 18, ấp TL, xã TĐ, huyện HT, tỉnh TN; Chỗ ở: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không có;
Tiền sự: Có 02 tiền sự.
- Ngày 28/7/2016, bị Công an xã TĐ, huyện HT, tỉnh TN xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, D đã nộp phạt xong.
- Ngày 23/02/2018, bị Công an xã TĐ, huyện HT, tỉnh TN xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, D đã nộp phạt xong.
Con ông: TPH, sinh năm 1967 và bà LKH, sinh năm 1967.
Anh D có mặt tại phiên họp.
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Lâm Hữu Bình, chức vụ: Chuyên viên Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện HT (Theo giấy ủy quyền số 90/GUQ-P.LĐTBXH ngày 07/11/2018).
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT, tỉnh TN: Ông Võ Hoàng Nhân–Kiểm sát viên.
NHẬN THẤY:
Ngày 06/10/2018, TPD bị Công an xã TĐ, huyện HT, tỉnh TN mời làm việc, thử nhanh chất ma túy thì cho kết quả dương tính. D trình bày bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2015, loại ma túy đá, hình thức sử dụng là hút và hiện đang nghiện ma túy dạng nặng.
Qua làm việc, D thừa nhận có đăng ký hộ khẩu thường trú tại số 17, tổ 18, ấp TL, xã TĐ, huyện HT, tỉnh TN nhưng sống lang thang, không nơi cư trú ổn định. Do D không có nơi cư trú ổn định nên ngày 06/10/2018, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TĐ ra Quyết định số 138/QĐ-UBND đưa D vào cơ sở cai nghiện (Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh TN) để quản lý cắt cơn, giải độc, tư vấn tâm lý trong thời gian làm thủ tục đưa D vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện HT:
Căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với TPD do Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TĐ lập đã thể hiện: D là người nghiện ma túy đá, không có nơi cư trú ổn định và ngày 06/10/2018 đã bị Công an xã TĐ, huyện HT thử nhanh chất ma túy thì cho kết quả dương tính. Tại phiếu trả lời kết quả của Trạm y tế xã TĐ ngày 06/10/2018 xác định D là người nghiện ma túy đá. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện HT, tỉnh TN xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TPD, thời gian từ 12 tháng đến 18 tháng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT:
Tòa án nhân dân huyện HT đã tuân thủ theo đúng quy định của Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự, thủ tục tiến hành phiên họp, đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định. Đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TPD thời gian từ 12 tháng đến 18 tháng.
Tại phiên họp, D thừa nhận bản thân có sử dụng ma túy đá, đồng ý đi cai nghiện và xin thời gian cai nghiện ngắn.
XÉT THẤY:
Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; sau khi nghe ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện HT; sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HT phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, có đủ cơ sở xác định:
Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã TĐ đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TPD, hồ sơ đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các Điều 6; 95; 96; 103; 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3; 4; 8; 9; 11; 12 Nghị định số 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điểm 3 khoản 1, điểm 2, 3 khoản 2, Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
TPD biết rõ tác hại của ma túy đá đối với bản thân, đối với con người, cộng đồng và xã hội nhưng vẫn sử dụng và bị nghiện. Để tạo điều kiện cho D chữa bệnh, lao động, học văn hóa, học nghề nên cần chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội huyện HT, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với D.
Trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, D thừa nhận nhiều lần sử dụng trái phép chất ma túy đá, bị nghiện nặng và đồng ý đi cai nghiện, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Ngoài ra, D đã từng bị xử phạt tiền 02 lần về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn không sửa chữa nên thuộc trường hợp tái phạm, đây là tình tiết tăng nặng được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 10 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 6; khoản 2, Điều 9; Điều 95; Điều 96; Điều 103; Điều 104; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 3; Điều 4; Điều 8; Điều 9; Điều 11; Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ – CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; điểm 3, khoản 1; điểm 2, 3, khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với TPD.
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày 06/10/2018. Nơi chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh TN.
3. Người bị áp dụng biên pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân huyện HT có quyền kháng nghị đối với quyết định của Tòa án trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an huyện HT; Phòng Lao động -Thương binh và Xã hội huyện HT, tỉnh TN.
| Nơi nhận: - VKS huyện HT; - Trưởng công an huyện HT; - Trưởng Phòng Lao động Thương binh và Xã hội huyện HT; - UBND xã TĐ; - Công an xã TĐ; - Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh TN; - Anh TPD; - Lưu HS. | THẨM PHÁN LÂM TẤN NHÀN |