vanban.org

Quyết định 94/QĐ-TA

TAND TP. Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng Tuyên án 18/05/2020 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị N (Nữ, sinh ngày: 07/5/1992).

2/. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 tháng, kể từ ngày 31/3/2020. 3/. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Nguyễn Thị N"
  • Tòa quyết gì? 1/. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị N (Nữ, sinh ngày: 07/5/1992).
  • Căn cứ chính? Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 20 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét; Điều 22 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 94/QĐ-TATP. Sóc Trăng, ngày 18 tháng 5 năm 2020

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÓC TRĂNG, TỈNH SÓC TRĂNG

Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:

1/. Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thúy Uyên.

2/. Thư ký phiên họp: Ông Nguyễn Minh Thuận.

Ngày 18/5/2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng tiến hành phiên họp xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo Quyết định mở phiên họp số 67/QĐ-TA ngày 07/5/2020 đối với:

Họ và tên: Bà Nguyễn Thị N;

Giới tính: Nữ

Sinh ngày: 07/5/1992.

Nghề nghiệp: Không.

Tôn giáo: Không.

Dân tộc: Khmer.

Trình độ học vấn: 08/12.

Địa chỉ thường trú: Đường T, khóm E, phường M, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Chỗ ở: Sống lang thang.

Chỗ ở hiện nay: Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S, địa chỉ: Đường K, khóm B, phường H, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Tiền án: Không.

Tiền sự: Không.

Con ông Nguyễn Văn P và bà Danh Thị B

Bà Nguyễn Thị N có mặt tại phiên họp.

Có sự tham gia của:

1/. Đại diện cơ quan đề nghị: Ông Đặng Hoàng K, Chuyên viên Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố S theo Giấy ủy quyền ngày 13/5/2020 của Trưởng phòng Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

2/. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng tham gia phiên họp: Bà Nguyễn Lê N, Kiểm sát viên.

3/. Đại diện Công an phường M, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng: Ông Phạm Kiên Nhẫn – cán bộ Công an phường M, thành phố S theo Giấy ủy quyền ngày 12/5/2020 của Trưởng Công an phường M, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

NHẬN THẤY:

Vào ngày 31/03/2020 Công an phường M, thành phố S phát hiện bà Nguyễn Thị N đang có biểu hiện nghi vấn sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra và mời bà N về trụ sở Công an phường M để làm việc. Qua làm việc bà N khai nhận bản thân có sử dụng ma túy vào ngày 31/03/2020, loại ma túy sử dụng là Methammphetamin, hình thức sử dụng là hút nên Công an phường M đưa bà N đến Trạm y tế Phường M, thành phố S kiểm tra chất để xác định tình trạng nghiện ma túy, kết quả bà N dương tính với ma túy đá (Methamphetamine) nên Công an phường M cũng cố hồ sơ và đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân Phường M, thành phố S lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà N.

Theo kết quả xác minh tình trạng cư trú của bà Nguyễn Thị N thì bà N có địa chỉ thường trú tại đường T, khóm E, phường M, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nhưng không có nơi cư trú ổn định, sinh sống lang thang khu vực đường T, khóm E, phường M, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.

Ý kiến của đại diện Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh Sóc Trăng tại phiên họp: Bà Nguyễn Thị N là người nghiện ma túy, chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định nên đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S với thời gian là 20 tháng.

Ý kiến của bà Nguyễn Thị N: Bà N thừa nhận đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2017 và lần sử dụng gần nhất là ngày 31/3/2020. Bà N xin giảm thời gian áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh S.

Ý kiến của đại diện Công an phường M, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng: Bà Nguyễn Thị N là người nghiện ma túy, chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định nên đề nghị Tòa án chấp nhận đề nghị của Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố S đưa bà N đi cai nghiện bắt buộc.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng: Việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị N đã được tiến hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền và đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà N với thời gian là 20 tháng.

XÉT THẤY:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên họp cũng như ý kiến của cơ quan đề nghị, ý kiến của người bị đề nghị, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sóc Trăng, nhận thấy:

Hồ sơ đề nghị áp dụng biên pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị N được lập đầy đủ, đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại Điều 103, Điều 104 của Luật xử lý vi phạm hành chính; lần cuối bà N sử dụng ma túy trái phép bị phát hiện và lập biên bản là ngày 31/3/2020 nên còn trong thời hiệu xử lý vi phạm hành chính theo điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 4 của Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 Quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Theo Phiếu trả lời kết quả ngày 31/3/2020 của Trạm y tế Phường M, thành phố S thì bà N nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine. Theo kết quả xác minh tình trạng cư trú thì bà N có địa chỉ thường trú tại đường T, khóm E, phường M, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Nhưng không có nơi cư trú ổn định, sinh sống lang thang khu vực đường T, khóm E, phường M, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. Như vậy, bà N là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên chưa bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do nghiện ma túy nhưng không có nơi cư trú ổn định theo Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính và điểm 3 khoản 1 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về nhân thân, Bà Nguyễn Thị N không có tiền án, không có tiền sự. Trong quá trình lập hồ sơ và tại phiên họp, bà N đã nhận thức được hành vi vi phạm, tự nguyện khai báo lần sử dụng ma túy gần nhất là ngày 31/3/2020 nên là tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 9 Luật xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên cần phải xem xét, quyết định áp biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời gian đủ để bà N chữa bệnh và trở thành công dân dân có ích cho xã hội.

Vì vậy, việc Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh Sóc Trăng về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị N với thời gian 20 tháng là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, Điều 96, Điều 103, Điều 104, khoản 2 Điều 105, Điều 110 Luật xử lý vi phạm hành chính và các Điều 20, 22, 23, 24, 30, 31 Pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân,

QUYẾT ĐỊNH:

1/. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với bà Nguyễn Thị N (Nữ, sinh ngày: 07/5/1992).

2/. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 20 tháng, kể từ ngày 31/3/2020.

3/. Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị; Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày công bố quyết định.

Bà Nguyễn Thị N có quyền khiếu nại quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4/. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5/. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố S, tỉnh Sóc Trăng phối hợp với Công an thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng thi hành Quyết định này.

Cỡ chữ