- Tranh chấp gì? "Cai nghiện"
- Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T -Giới tính Nam, tên gọi khác: Không; sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT: TDP A, phường M, thành phố S, tỉnh TH; chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định;
- Căn cứ chính? Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Nghị định số 109/2021/NĐ-CP Quy định cơ sở y tế đủ điều kiện…; Nghị định số 116/2021/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều củ…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH TỈNH TH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 94/2023/QĐ-TA | TP. TH, ngày 20 tháng 6 năm 2023 |
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Thị Thanh Trúc
2. Thư ký phiên họp: Ông Đinh Ngọc Minh
Ngày 20/6/2023 tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH tiến hành phiên họp xem xét, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thụ lý số 92/TB –TLHS ngày 12 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định mở phiên họp số 92/QĐ-TA ngày 14/6/2023 đối với:
Họ và tên: Lê Văn T -Giới tính Nam, tên gọi khác: Không; sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT: TDP A, phường M, thành phố S, tỉnh TH; chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 11/12; nghề nghiệp: Không; con ông Lê Minh H (đã chết) và con bà Phạm Thị T1; tiền án: 01; tiền sự: Không; nhân thân: 02.
Được giao cho Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH ngày 25/5/2023. (Có mặt)
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đồng Thị Hạnh – Chức vụ: Phó trưởng phòng, Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố TH
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH: Ông Vũ Xuân Đại, chức vụ: Kiểm sát viên
NHẬN THẤY
Theo hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc: Lê Văn T sử dụng và nghiện ma túy từ đầu năm 2023 cho đến nay, loại ma túy sử dụng là heroine, hình thức sử dụng là hít. Mức độ sử dụng 01 lần/ngày.
Ngày 25/5/2023 tại khu vực ngã ba T, thành phố TH, T có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, thì bị Công an phường T kiểm tra và tiến hành xét nghiệm ma túy. Kết quả xét nghiệm nước tiểu bằng que thử, thể hiện T: Dương tính (+) với ma túy. Công an phường T, thành phố TH đã tiến hành lập biên bản sự việc về hành vi vi phạm của T.
Do T là đối tượng lang thang, không có nơi cư trú ổn định, Công an phường T đã lập hồ sơ đề nghị xác định tình trạng nghiện ma túy đối với T. Ngày 25/5/2023, Chủ tịch UBND phường T, thành phố TH có quyết định số 40/QĐ –UBND giao T cho Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH quản lý trong thời gian làm thủ tục đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Tại phiếu trả lời xác minh số 01/TLXM ngày 26/5/2023 của Công an phường M, thành phố S xác định nơi cư trú của T thể hiện: Lê Văn T lang thang, không có nơi cư trú ổn định.
Tại Phiếu trả lời kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 29/5/2023 của Trung tâm y tế thành phố TH, xác định T nghiện ma túy nhóm Opiats (Heroine).
Sau khi có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, Công an phường T, thành phố TH đã thông báo, giải thích cho T về đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế theo quy định tại Điều 28 Nghị định 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ. Tuy nhiên, hết thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày có kết quả xác định nghiện ma túy, T không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại UBND cấp xã nơi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật. Ngày 06/6/2023, Công an phường T, thành phố TH đã lập Biên bản vi phạm về cai nghiện ma túy tự nguyện, quản lý sau cai nghiện ma túy và điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế đối với Lê Văn T.
Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ và thông báo về việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với T. Ngày 09/6/2023, UBND phường T có văn bản đề nghị phòng Lao động–Thương binh và xã hội thành phố TH xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T.
Tại văn bản số 239/ĐN-CNBB ngày 08/6/2023 phòng Lao động – Thương binh và xã hội thành phố TH đã đề nghị Tòa án nhân dân thành phố TH xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH.
Tại phiên họp, Lê Văn T xác định: Bản thân là nghiện ma túy từ đầu năm 2023, không có nơi cư trú ổn định, mỗi ngày sử dụng ma túy một lần. Lần sử dụng ma túy gần đây nhất là ngày 25/5/2023, loại ma túy sử dụng là Heroine, hình thức sử dụng là hít. Sau khi được Công an phường T thông báo kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, T không đăng ký cai nghiện ma túy tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, mà có đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc. Do vậy, việc UBND phường T và phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố TH lập hồ sơ đề nghị Tòa án nhân dân thành phố TH xem xét áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T là đúng quy định của pháp luật.
Đại diện phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố TH đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH, thời gian là 15 đến 18 tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH có ý kiến: Quá trình xem xét, áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T, cơ quan lập hồ sơ, cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định hướng dẫn. Quá trình từ khi thụ lý hồ sơ và tại phiên họp, Thẩm phán giải quyết đã tuân thủ theo đúng thủ các quy định của Pháp lệnh quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, có đủ căn cứ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T. Đề nghị Tòa án áp dụng điểm d khoản 2 Điều 6, Điều 95, khoản 1 Điều 96, Điều 103, 104, khoản 2 Điều 105, Điều 106 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Các Điều 40, 41, 42, 43 Nghị định 116 ngày 21/12/2021 quy định chi tiết 1 số điều của luật phòng chống ma túy, luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy giải quyết theo hướng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T thời hạn từ 15 đến 18 tháng tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH.
Sau khi xem xét ý kiến của Cơ quan đề nghị, người bị đề nghị, đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp.
XÉT THẤY
Qua xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T thấy:
Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi bổ sung năm 2020; Điều 3 Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân, Điều 9 của Nghị quyết số 04/2015/NQ-HĐTP ngày 24/12/2015 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố TH, tỉnh TH.
Về thời hiệu: Ngày 06/6/2023 Công an phường T lập biên bản vi phạm hành chính đối với T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bản thân T thừa nhận thường xuyên sử dụng ma túy, lần sử dụng gần đây nhất là ngày 25/5/2023. Do đó đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của phòng Lao động -Thương binh và xã hội thành phố TH đối với T đảm bảo về thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính Nghị định số 116/NĐ-CP ngày 21/12/2021 quy định chi tiết 1 số điều của luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy.
Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 9 Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính và cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật phòng, chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T thấy: Lê Văn T, sinh năm 1986, không có nơi cư trú ổn định là người nghiện ma túy từ đầu năm 2023 cho đến nay, mỗi ngày sử dụng một lần, hình thức sử dụng là hít, loại ma túy sử dụng là Heroine. Ngày 25/5/2023 là ngày gần đây nhất T có hành vi sử dụng ma túy bị Công an phường T lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy ngày 29/5/2023 của Trung tâm y tế thành phố TH có kết quả T nghiện ma túy, nhóm Opiats (Heroine).
Khi có kết quả xác định tình trạng nghiện ma túy, T đã được giải thích về quyền đăng ký cai nghiện tự nguyện, T không đăng ký cai nghiện tự nguyện. Đối chiếu với quy định tại khoản 1 Điều 32 của Luật phòng chống ma túy thấy: T là người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên không đăng ký cai nghiện tự nguyện hoặc đăng ký điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế, do vậy là đối tượng bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Luật phòng chống ma túy.
Sau khi thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc đối với T, Tòa án giao thông báo thụ lý, Quyết định mở phiên họp và T đã nhận các tài liệu trên. Tại phiên họp T nhất trí với đề nghị của Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố TH và Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của người bị áp dụng: Lê Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo Điều 10 Luật xử phạt vi phạm hành chính. Trong quá trình lập hồ sơ T tự nguyện viết bản tường trình, tự nguyện khai báo được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử phạt vi phạm hành chính.
Như vậy đã có đủ căn cứ để xác định Lê Văn T là người nghiện và sử dụng ma túy hàng ngày. Để đảm bảo cho T được chữa bệnh, phục hồi sức khỏe đồng thời hạn chế tái nghiện tại cộng đồng, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố TH đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với T là có căn cứ, đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điều 3, Điều 5, khoản 2 Điều 6, khoản 2 Điều 9, Điều 95, 96, 105, 106 và Điều 110 của Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, được sửa đổi bổ sung năm 2020; Khoản 1 Điều 32 Luật phòng chống ma túy; Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Nghị định 116/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của luật phòng chống ma túy, Luật xử lý vi phạm hành chính về cai nghiện ma túy và quản lý sau cai nghiện ma túy; Nghị định 109/2021/NĐ-CP ngày 21/12/2021 của Chính phủ quy định cơ sở y tế đủ điều kiện xác định tình trạng nghiện ma túy và hồ sơ, trình tự, thủ tục xác định tình trạng nghiện ma túy.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T -Giới tính Nam, tên gọi khác: Không; sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT: TDP A, phường M, thành phố S, tỉnh TH; chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định;
Tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH; địa chỉ: Tổ x, phường T, thành phố TH, tỉnh TH.
2. Thời hạn chấp hành quyết định tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 16 (Mười sáu) tháng, kể từ ngày người phải chấp hành quyết định bị tạm giữ để đưa đi cơ sở cai nghiện bắt buộc. Thời gian quản lý tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH từ ngày 25/5/2023 đến thời điểm người có thẩm quyền đưa đối tượng bị áp dụng vào cơ sở cai nghiện bắt buộc được trừ vào thời hạn cai nghiện bắt buộc.
3. Người bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 33 của Pháp lệnh số 03/2022/UBTVQH15 ngày 13/12/2022 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành quyết định: Công an thành phố TH chủ trì, phối hợp với phòng Lao động - Thương binh và xã hội thành phố TH, tỉnh TH đưa người đi thi hành Quyết định; Cơ sở cai nghiện Đa chức năng tỉnh TH tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Phòng LĐTBXHTP TH; - VKSND tỉnh TH; -VKSND thành phố TH; - Công an thành phố TH; - Công an phường (xã); - Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH; - UBND phường (xã); - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Trương Thị Thanh Trúc |