- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Võ Lê Bình M.
- Căn cứ chính? Điều 212 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 213 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THỊ XÃ PL TỈNH BP Số: 93/2024/QĐST-HNGĐ | PL, ngày 25 tháng 12 năm 2024 |
QUYẾT ĐỊNH
CỘNG NHẬN THUẬN TÌNH LY HÔN
VÀ SỰ THỎA THUẬN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ
Căn cứ hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 164/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024, giữa:
Nguyên đơn: Nguyễn Thị Thúy N, sinh năm: 1985
Bị đơn: Võ Lê Bình M, sinh năm: 1981
Cùng địa chỉ: khu phố 5, phường Thác Mơ, thị xã PL, tỉnh BP
Căn cứ vào Điều 212 và Điều 213 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các điều 55,81,82,83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 18 tháng 12 năm 2024.
XÉT THẤY:
Việc thuận tình ly hôn và thoả thuận của các đương sự được ghi trong biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành ngày 18 tháng 12 năm 2024 là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Đã hết thời hạn 07 ngày, kể từ ngày lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hoà giải thành, không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa: Chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Võ Lê Bình M.
2. Công nhận sự thoả thuận của các đương sự cụ thể như sau:
a) Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Võ Lê Bình M thuận tình ly hôn.
b) Về con chung:
- Đối với cháu Võ Thị Yến Nh, sinh năm: 2003 và cháu Võ Nguyễn Thành Danh, sinh ngày 16/9/2003 đã đủ 18 tuổi nên Tòa án không xem xét.
- Giao cháu Võ Nguyễn Thành Nhân, sinh ngày 06/12/2012 cho anh Võ Lê Bình M trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cho đến khi cháu Nhân đủ 18 tuổi. Chị Nguyễn Thị Thúy N không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom; không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
c) Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Thúy N và anh Võ Lê Bình M thống nhất tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
d) Về án phí Hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Thúy N tự nguyện chịu 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng được trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị N đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003338 ngày 18/12/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã PL, tỉnh BP.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thúy N số tiền 150.000 (một trăm năm mươi nghìn) đồng còn lại theo biên lai thu tiền trên.
3. Quyết định này có hiệu lực pháp luật Ny sau khi được ban hành và không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BP; - VKSND Tx. PL; - Chi cục THADS Tx. PL; - Các đương sự; - UBND phường Sơn Giang, tx PL; (số 35, ngày 10/10/2003); - Lưu hồ sơ vụ việc. | THẨM PHÁN Nguyễn Văn Hưng |