vanban.org

Quyết định 92/2017/QĐ-TA

TAND TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 07/11/2017 Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc H.

Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày Lê Ngọc H bị bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? "Lê Ngọc H (Nguyễn Minh H)"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc H.
  • Căn cứ chính? Điều 103 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 104 Luật Xử lý vi phạm hành chính; Điều 11 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP Quy định chế độ áp dụng biện phá…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP BUÔN MA THUỘT
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 92/2017/QĐ-TA
Ngày 07/11/2017

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính

đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Với thành phần phiên họp gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà H’Năm Bkrông.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên họp: Ông Y Kam Ênuôl - Cán bộ Tòa án.

Ngày 25/10/2017 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tiến hành mở phiên họp để xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định mở phiên họp số: 86/2017/QĐ-MPH ngày 31/10/2017 đối với:

Họ và tên: LÊ NGỌC H (Tên gọi khác: Nguyễn Minh H). Sinh năm: 1996. Tại: Quảng Nam.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thị trấn P, huyện P, tỉnh Bình Định.

Chỗ ở hiện nay: Không nơi ở nhất định.

Trình độ văn hoá: 09/12; Nghề nghiệp: không.

Tiền án, tiền sự: không.

Con ông Nguyễn N và con bà Lê Thị Thanh L

Trú tại: 44 N, thị trấn D, huyện D, tỉnh Đắk Nông

Có sự tham gia của:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk: Ông Y Lương Byă –Chức vụ: Kiểm sát viên.

- Đại diện Phòng lao động thương binh và Xã hội Tp Buôn Ma Thuột.

Người được ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến Cường –Chức vụ: Phó Trưởng Phòng Lao đông thương binh và xã hội Tp. Buôn Ma Thuột.

NHẬN THẤY

Vào ngày 17/8/2017 Lê Ngọc H bị phát hiện có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại khu vực phường T, Tp. B, tỉnh Đắk Lắk thì bị Công an phường T, Tp. B phát hiện đưa về làm việc, quá trình làm việc Lê Ngọc H khai nhận đã sử dụng ma túy nhiều lần từ tháng 10 năm 2016 bằng hình thức hút (hít) ma túy đá vào trong cơ thể và nghiện cho đến nay. Công an phường T, thành phố B phối hợp với bệnh viện đa khoa thành phố B lập hồ sơ thử test. Kết quả dương tính với Morphin/Heroin (ma túy).

Ý kiến của đại diện Phòng lao động thương binh và Xã hội thành phố B: Căn cứ vào hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc H do Công an phường T, thành phố B lập đã thể hiện: Lê Ngọc H nghiện ma túy loại Amphetamine. Do vậy đề nghị Tòa án nhân dân thành phố B ra quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tập trung cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc H với thời hạn là 16 tháng đến 21 tháng.

Ý kiến của đại diện VKSND thành phố B: Tòa án nhân dân thành phố B đã tuân thủ theo đúng quy định của pháp lệnh trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân về thụ lý hồ sơ, ra quyết định mở phiên họp và trình tự thủ tục tiến hành phiên họp; đảm bảo cho người tham gia phiên họp thực hiện quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Tòa án nhân dân. Đề nghị Tòa án nhân dân thành phố B áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk đối với Lê Ngọc H, mức áp dụng từ 18 tháng đến 21tháng.

XÉT THẤY

Sau khi xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, nghe ý kiến của cơ quan đề nghị là Phòng lao động, thương binh và Xã hội thành phố B và đại diện VKSND thành phố B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong việc xem xét, quyết định áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính, đã có đủ căn cứ để xác định:

Phòng lao động, thương binh và Xã hội thành phố B đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc H đầy đủ và hợp lệ theo quy định tại các điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; Các Điều 3, Điều 4, Điều 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Mặc dù biết tác hại của ma túy đối với bản thân và cộng đồng, nhưng Lê Ngọc H vẫn cố ý sử dụng. Xét hành vi của Lê Ngọc H có tính liên tục, để tạo điều kiện cho Lê Ngọc H chữa bệnh, lao động, học tập, học nghề, cần chấp nhận đề nghị của Phòng lao động, thương binh và Xã hội thành phố B quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc H với thời hạn là 18 tháng.

Xét hành vi vi phạm của Lê Ngọc H không có tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ được quy định tại Điều 9, Điều 10 Luật xử lý vi phạm hành chính.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng các Điều 6, Điều 95, Điều 96, Điều 103 và Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính; các Điều 3, Điều 4, Điếu 8, Điều 9, Điều 11 và Điều 12 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; các điều 19, Điều 20 và Điều 22 Pháp lệnh trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.

1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Ngọc H.

2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 18 tháng, kể từ ngày Lê Ngọc H bị bị tạm giữ để đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Nơi chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc là Cơ sở điều trị, cai nghiện ma túy tỉnh Đắk Lắk.

3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết quyết định, cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát nhân dân thành phố B có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày Tòa án công bố quyết định.

4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.

5. Cơ quan thi hành quyết định: Phòng lao động, thương binh và xã hội thành phố B. * Nơi nhận:

Cỡ chữ