vanban.org

Quyết định 91/2026/QĐST-VHNGĐ — Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của chị Lô Thị L. Xác định:

Anh Nguyễn Hoàng H không phải là cha đẻ của cháu Lô Thị Ngọc L1 sinh ngày 12/11/2025. Anh Nguyễn Ngọc Công T là cha đẻ của cháu Lô Thị Ngọc L1 sinh ngày 12/11/2025. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Yêu cầu xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xác nhận cha cho con chưa thành niên"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của chị Lô Thị L. Xác định:
  • Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 9 - NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 91/2026/QĐST-VHNGĐNghệ An, ngày 25 tháng 3 năm 2026

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

V/v “Yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên”

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 9 - NGHỆ AN

Thành phần giải quyết việc hôn nhân gia đình gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên họp: Ông Hà Văn Hải.

Thư ký phiên họp: Ông Quang Lương Hùng - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Nghệ An tham gia phiên họp: Bà Phan Thị Thanh Hoa - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 3 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Nghệ An mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc hôn nhân gia đình thụ lý số 58/2026/TLST-VHNGĐ ngày 02 tháng 3 năm 2026 về việc “Yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân gia đình số 58/2026/QĐ-VHNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2026, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

- Người yêu cầu giải quyết việc hôn nhân gia đình: Chị Lô Thị L, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Bản Đ, xã M, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

- Người liên quan đến yêu cầu:

1. Anh Nguyễn Ngọc Công T, sinh năm 1984.

Nơi cư trú: K, xã T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

2. Anh Nguyễn Hoàng H, sinh năm 1985.

Nơi cư trú: Xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt không có lý do.

3. Cháu Lô Thị Ngọc L1, sinh ngày 12/11/2025. Người đại diện hợp pháp cháu Lô Thị Ngọc L1. Chị Lô Thị L, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Bản Đ, xã M, tỉnh Nghệ An. Là mẹ đẻ cháu Lô Thị Ngọc L1.

NỘI DUNG VIỆC HÔN NHÂN GIA ĐÌNH

Theo nội dung đơn yêu cầu, quá trình giải quyết việc hôn nhân gia đình người yêu cầu trình bày như sau:

Chị Lô Thị L và anh Nguyễn Hoàng H kết hôn năm 2009 nhưng do mâu thẫu với nhau nên đã ly thân không còn chung sống với nhau từ năm 2010 và đã ly hôn tại bản án số 68/2025/HNGĐ-ST ngày 26/11/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6 - Nghệ An. Tuy nhiên quá trình ly thân trong thời kỳ hôn nhân với anh Nguyễn Hoàng H thì chị Lô Thị L có chung sống như vợ chồng với anh Nguyễn Ngọc Công T và sinh 01 bé gái cân nặng 2900,0 gram tại giấy chứng sinh số 03351.GCS.40001.25 quyển số 2025 ngày 13/11/2025 của Bệnh viện H1 và dự kiến đặt tên con là Lô Thị Ngọc L1, sinh ngày 12/11/2025 (hiện nay chưa được đăng ký khai sinh). Vì vậy chị Lô Thị L yêu cầu Tòa án xác định anh Nguyễn Hoàng H không phải là cha đẻ cháu Lô Thị Ngọc L1 được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân và xác định anh Nguyễn Ngọc Công T là cha đẻ cháu Lô Thị Ngọc L1.

Tình trạng của việc yêu cầu: Cháu Lô Thị Ngọc L1 sinh ngày 12/11/2025 chưa có đăng ký khai sinh theo quy định của pháp luật, nhưng được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị Lô Thị L và anh Nguyễn Hoàng H.

Mục đích yêu cầu xác định không phải cha con giữa anh H và cháu L1 và xác định anh T và cháu L1 là cha con theo quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình là để chị L đăng ký khai sinh, thực hiện các thủ tục pháp lý, quyền nhân thân… cho cháu Lô Thị Ngọc L1 được sinh ra trong thời kỳ hôn nhân giữa chị L và anh H.

Người liên quan trong việc yêu cầu anh Nguyễn Ngọc Công T trình bày:

Anh Nguyễn Ngọc Công T và chị Lô Thị L chung sống với nhau như vợ chồng trong thời điểm chị L đang trong thời kỳ có đăng ký kết hôn với anh Nguyễn Hoàng H. Thời điểm chị L và anh H chưa ly hôn thì anh T và chị L chung sống với nhau và sinh 01 con chung vào ngày 12/11/2025 dự kiến đặt tên con là Lô Thị Ngọc L1, qua kết quả xét nghiệm ADN giữa anh và con Lô Thị Ngọc L1 có quan hệ huyết thống bố - con, anh T đề nghị Tòa án xác định anh là bố đẻ cháu Lô Thị Ngọc L1.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Nghệ An tham gia phiên họp phát biểu ý kiến:

Thẩm quyền thụ lý việc hôn nhân gia đình, xác định chứng cứ, việc cấp, tống đạt các văn bản tố tụng, việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong thời gian chuẩn bị xét đơn yêu cầu, việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết việc hôn nhân gia đình đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 88, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm b khoản 2 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị: Chấp nhận yêu cầu của chị Lô Thị L. Xác định: Anh Nguyễn Hoàng H sinh năm 1985, trú tại xóm T, xã V, tỉnh Nghệ An không phải là cha đẻ của cháu Lô Thị Ngọc L1 và xác định anh Nguyễn Ngọc Công T, sinh năm 1984, trú tại khối C, xã T, tỉnh Nghệ An là cha đẻ của cháu Lô Thị Ngọc L1, theo giấy chứng 03351.GCS.40001.25 quyển số 2025 ngày 13/11/2025 của Bệnh viện H1.

Về lệ phí: Chị Lô Thị L được miễn số tiền lệ phí giải quyết việc hôn nhân gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc hôn nhân gia đình được thẩm tra tại phiên họp, ý kiến của các đương sự và đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Nghệ An nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Lô Thị L yêu cầu xác định cha cho con chưa thành niên. Đây là việc hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 9 – Nghệ An theo quy định tại khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35; điểm t khoản 2 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 101 của Luật Hôn nhân và gia đình.

Tại phiên họp, chị Lô Thị L và anh Nguyễn Ngọc Công T có mặt, anh Nguyễn Hoàng H vắng mặt nơi cư trú, Tòa án được Ủy thác đã niêm yết đầy đủ các thủ tục theo quy định nhưng anh H không có ý kiến nên Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung yêu cầu giải quyết:

2.1. Về quyền yêu cầu xác định cha cho con: Chị Lô Thị L yêu cầu xác định anh Nguyễn Hoàng H không phải là cha đẻ của cháu Lô Thị Ngọc L1 và xác định anh Nguyễn Ngọc Công T là cha đẻ của cháu Lô Thị Ngọc L1 là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình.

2.2. Về yêu cầu xác định cha cho con:

Căn cứ vào các tài liệu, lời khai của người yêu cầu và người liên quan trong việc yêu cầu chị Lô Thị L và anh Nguyễn Hoàng H kết hôn với nhau năm 2009 nhưng do mâu thuẫn không còn chung sống với nhau từ năm 2010 và ly hôn tại bản án số 68/2025/HNGĐ-ST ngày 26/11/2025 của Tòa án nhân dân Khu vực 6

- Nghệ An. Quá trình ly thân trong thời kỳ hôn nhân với anh Nguyễn Hoàng H thì chị Lô Thị L có chung sống như vợ chồng với anh Nguyễn Ngọc Công T và sinh con Lô Thị Ngọc L1 ngày 12/11/2025. Nên yêu cầu Tòa án xác định anh Nguyễn Hoàng H không phải là cha đẻ của cháu Lô Thị Ngọc L1 và xác định anh Nguyễn Ngọc Công T là cha đẻ của cháu Lô Thị Ngọc L1.

Tại kết quả xét nghiệm ADN số 260023GL/ADN ngày 07 tháng 01 năm 2026 của Viện công nghệ A và phân tích di truyền - GENLAP kết luận anh Nguyễn Ngọc Công T có quan hệ huyết thống cha - con với người có tên dự kiến Lô Thị Ngọc L1 độ tin cậy > 99,9999%.

Từ những phân tích nêu trên, có đủ căn cứ để xác định anh Nguyễn Hoàng H không phải là cha đẻ của cháu Lô Thị Ngọc L1 sinh ngày 12/11/2025 mà xác định anh Nguyễn Ngọc Công T là cha đẻ cháu Lô Thị Ngọc L1 sinh ngày 12/11/2025. Do đó, yêu cầu của chị Lô Thị L là có căn cứ, đúng quy định nên cần chấp nhận.

Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân gia đình: Chị Lô Thị L được miễn lệ phí theo quy định pháp luật.

Các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng quy định pháp luật nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 88, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; Căn cứ khoản 10 Điều 29, điểm b khoản 2 Điều 35, điểm t khoản 2 Điều 39, Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm b khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1. Chấp nhận yêu cầu của chị Lô Thị L. Xác định:

- Anh Nguyễn Hoàng H không phải là cha đẻ của cháu Lô Thị Ngọc L1 sinh ngày 12/11/2025.

- Anh Nguyễn Ngọc Công T là cha đẻ của cháu Lô Thị Ngọc L1 sinh ngày 12/11/2025.

Chị Lô Thị L có quyền, nghĩa vụ liên hệ đến các cơ quan có thẩm quyền để làm các thủ tục hộ tịch cho cháu Lô Thị Ngọc L1 theo đúng quy định của pháp luật.

2. Về lệ phí sơ thẩm giải quyết việc hôn nhân gia đình: Chị Lô Thị L được miễn số tiền lệ phí giải quyết việc hôn nhân gia đình.

3. Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Người yêu cầu, người liên quan đến yêu cầu có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày Tòa án ra quyết định, người liên quan trong việc yêu cầu vắng mặt có quyền kháng cáo quyết định trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 9 – Nghệ An có quyền kháng nghị trong thời hạn 10 ngày; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Cỡ chữ