- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn L tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 91/2020/HS-ST Ngày 29-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG TRIỀU – TỈNH QUẢNG NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Phạm Ngọc Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Quốc Tuấn.
2. Ông Nguyễn Văn Bẩy.
Thư ký phiên tòa: bà Vũ Thị Thúy Hăng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: ông Phạm Công Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2020, tại Phòng xử án, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2020/QĐXXST ngày 31 tháng 8 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa ngày 15 tháng 9 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn L, tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 21/10/1988, tại thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú / Cư trú hiện nay: khu 1, phường X, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Lớp 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ và tên cha: Nguyễn Văn L1, sinh năm 1963; Họ và tên mẹ: Hoàng Kim T, sinh năm 1967; Vợ: Hoàng Thị C; Sinh năm 1990; có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2016. Tiền sự: chưa có; Tiền án: Ngày 22/8/2018, Tòa án nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (ngày 17/8/2019, chấp hành xong bản án). Bị bắt quả tang ngày 28/6/2020, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Hoàng Thị C – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28/6/2020, tại khuôn viên Nhà nghỉ PG, thuộc khu Nhuệ Hổ, phường Kim Sơn, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Tổ công tác Công an thị xã Đông Triều phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Văn L có hành vi cất giấu trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi quần phía sau L đang mặc 01 (một) gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng. Phát hiện và thu giữ tại trụ cột đèn thứ 9 cách vị trí L đang đứng 0,5m, 01 (một) gói giấy bên trong có 07 (bảy) gói giấy đều chứa chất bột màu trắng. Ngoài ra thu giữ của Nguyễn Văn L 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 16N3 – 0077 và 02 (hai) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và nhãn hiệu OPPO.
Tại bản Kết luận giám định số 865/KLGĐ ngày 02/7/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ninh, kết luận: Chất bột màu trắng trong 08 (tám) gói giấy ghi thu của Nguyễn Văn L là ma túy, loại Heroine, khối lượng 0,629 (không phẩy sáu hai chín) gam.
(Heroine nằm trong Danh mục IA, STT: 09; Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ ban hành các danh mục chất ma túy và tiền chất).
Quá trình điều tra, Nguyễn Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Về nguồn gốc số ma túy L khai: Khoảng 15 giờ ngày 28/6/2020, do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên L điều khiển xe mô tô đi đến khu vực ngã tư quán Toan, thành phố Hải Phòng, tại đây L gặp và mua của một người đàn ông (không rõ lai lịch địa chỉ) 01 (một) gói ma túy Heroine và 01 (một) gói giấy bên trong có 07 gói giấy nhỏ đều chứa ma túy Heroine với giá 800.000đ (tám trăm nghìn đồng). Khi mua được ma túy, L cất giấu số ma túy trên vào bên trong túi quần phía sau rồi đi về trong khuôn viên Nhà nghỉ Phúc Gia. Tại đây, L lấy gói giấy bên trong có 07 (bảy) gói ma túy để bỏ ra một phần sử dụng, phần còn lại đem cất giấu tại trụ cột đèn, thì bị phát hiện bắt quả tang.
Tại bản Cáo trạng số 78/CT-VKS-ĐH ngày 18 tháng 8 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật như nội dung bản Cáo trạng; đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 18 đến 21 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt 28/6/2020. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều; đồng thời xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để sớm trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thị xã Đông Triều và Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra đều hợp pháp và đúng trình tự tố tụng.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố. Kết hợp với lời khai của người chứng kiến và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Sơ đồ, bản ảnh hiện trường; biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định... Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 28/6/2020, tại khuôn viên Nhà nghỉ PG, thuộc khu Nhuệ Hổ, phường Kim Sơn, thị xã Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Văn L có hành vi tàng trữ trái phép 0,629g (không phẩy sáu hai chín) gam chất ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến khách thể là các quy định của nhà nước về quản lý, sử dụng chất gây nghiện. Bị cáo là người đã trưởng thành. Mặc dù nhận thức được đầy đủ tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi tàng trữ ma túy để thỏa mãn cơn nghiện. Hành vi của bị cáo đã cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 - Điều 249- Bộ luật hình sự.
Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
....
c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Triều và quan điểm của kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước tại phiên tòa truy tố bị cáo ra xét xử trước Tòa án theo tội danh và điều luật đã viện dẫn là hoàn toàn có cơ sở pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan, cần chấp nhận. Việc đưa bị cáo ra xét xử công khai và áp dụng một mức hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã gây ra là cần thiết.
Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Sau khi phạm tội, bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, bố bị cáo là ông Nguyễn Văn L được chủ tịch nước tặng thưởng huân chương chiến công năm 2001 nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự; Tuy nhiên, bị cáo đã có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa án tích, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng một mức hình phạt tương xứng, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới đảm bảo ý nghĩa giáo dục riêng, phòng ngừa chung.
Về vật chứng vụ án:
Số ma túy hoàn lại sau giám định đựng trong phong bì niêm phong số 867/KLGĐ là vật nhà nước cấm lưu hành và 08 vỏ giấy trong phong bì niêm phong số 954/KLGĐ không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO là những tài sản hợp pháp của Nguyễn Văn L và của chị Hoàng Thị C không liên quan đến hành vi phạm tội. Ngày 15/7/2020, Cơ quan điều tra đã giao lại cho chị C quản lý. Bị cáo và chị C không có ý kiến nào khác nên không đề cập xử lý.
Đối với xe mô tô biển kiểm soát 16N3 – 0077, tạm giữ của Nguyễn Văn L, quá trình điều tra chưa xác định được nguồn gốc hợp pháp, nên cần giao cho Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt 28/6/2020.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) phong bì niêm phong đựng mẫu vật hoàn lại sau giám định.
(Tình trạng vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 84 ngày 20/8/2020 giữa Công an thị xã Đông Triều và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Đông Triều).
- Giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã Đông Triều quản lý chiếc xe mô tô biển kiểm soát 16N3 – 0077 tiếp tục làm rõ nguồn gốc và xử lý theo quy định của pháp luật.
Áp dụng: Khoản 2 Điều 136; Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai có mặt bị cáo, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, báo cho bị cáo biết quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ninh; - VKSND thị xã Đông Triều; - VKSND tỉnh Quảng Ninh; - Cơ quan Điều tra, Cơ quan THA hình sự, Trại tạm giam Công an tỉnh Quảng Ninh; - Chi cục THADS thị xã Đông Triều; Sở tư pháp tỉnh Quảng Ninh; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, lưu trữ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Ngọc Bình (đã ký) |