- Tranh chấp gì? Y/c tuyên bố hoặc hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích — án dân sự — "Yêu cầu tuyên bố người mất tích"
- Tòa quyết gì? Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 27 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 367 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 90/2022/QĐST- DS | Hà nội, ngày 23 tháng 9 năm 2022 |
QUYẾT ĐỊNH
SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC DÂN SỰ
Về việc: “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH XUÂN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần giải quyết việc dân sự gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp
Bà Hoàng Thị Thoa
Thư ký ghi biên bản phiên họp
Ông Vũ Thanh Tùng
Thư ký Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân – Thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên họp:
Bà Dương Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân, mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc dân sự thụ lý số 45/2022/TLST-DS ngày 04/5/2022, về việc “Yêu cầu tuyên bố một người mất tích”, theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự số 13/2022/QĐST- DS ngày 15/9/2022, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:
1. Người yêu cầu giải quyết việc dân sự:
Bà Nguyễn Thị Kim N, sinh năm 1960; HKTT: Số 2, Ngõ Y, đường K, phường T, quận T, thành phố Hà Nội.
Yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất tích đối với: Anh Đỗ Mạnh T, Sinh năm 1985; HKTT: Số 2, Ngõ Y, đường K, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú cuối cùng trước biệt tích: Số 2, Ngõ Y, đường K, phường T, quận T, thành phố Hà Nội.
2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
2.1. Ông Đỗ Đức T, sinh năm 1958
2.2. Chị Đỗ Thị Thu T, sinh năm 1987
Cùng có HKTT: Số 2, Ngõ Y, đường K, phường T, quận T, thành phố Hà Nội.
(Tại phiên họp bà N, ông T, chị T có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VIỆC DÂN SỰ:
Theo đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự 29/4/2022 và bản tự khai của bà Nguyễn Thị Kim N về việc yêu cầu tuyên bố mất tích đối với anh Đỗ Mạnh T thể hiện:
Bà Nguyễn Thị Kim N và ông Đỗ Đức T có hai người con đẻ là anh Đỗ Mạnh T, sinh năm 1985 và chị Đỗ Thị Thu T, sinh năm 1987, gia đình ông bà tại cư trú tại Số 2, Ngõ Y, đường K, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Đến khoảng tháng 12/2012 anh T bỏ nhà đi biệt tích không có tin tức gì, gia đình bà đã đăng thông tin tìm kiếm trên báo, đài phát thanh nhưng vẫn không có tin tức gì của anh T, hiện gia đình bà không biết anh T làm gì, ở đâu. Nay, bà đề nghị Tòa án tuyên bố anh Đỗ Mạnh T mất tích từ tháng 12/2012 để gia đình bà giải quyết các vấn đề dân sự theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Đỗ Đức T xác nhận anh Đỗ Mạnh T là con đẻ của ông và bà Nguyễn Thị Kim N, từ tháng 12/2012 anh T bỏ nhà đi biệt tích đến nay không có tin tức gì, gia đình ông bà đã tiến hành tìm kiếm anh Đỗ Mạnh T bằng nhiều hình thức nhưng đến nay vẫn không có thông tin gì về anh Đỗ Mạnh T. Nay gia đình ông đề nghị Tòa án tuyên bố anh Đỗ Mạnh T mất tích từ tháng 12/2012 để gia đình ông bà giải quyết các vấn đề dân sự theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của chị Đỗ Thị Thu T có lời khai xác nhận nội dung như ý kiến của bà Nguyễn Thị Kim N và ông Nguyễn M T đã trình bày. Chị T đề nghị Toà án tuyên bố anh Đỗ Mạnh T mất tích từ tháng 12/2012.
Tại phiên họp bà Nguyễn Thị Kim N, ông Đỗ Đức T, chị Đỗ Thị Thu T có đơn xin vắng mặt và vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân tham gia phiên họp phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý giải quyết vụ việc, Thẩm phán, thư ký và các đương sự thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Căn cứ theo quy định tại Điều 68 BLDS, Điều 384, 385, 388, 389, Nghị quyết 326 /30.12.2016 của UBTVQH quy định về án phí đề nghị:
- Chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim N. Tuyên bố anh Đỗ Mạnh T (sinh ngày 09/9/1985, nơi cư trú cuối cùng trước khi biệt tích Số 2, Ngõ Y, đường K, phường T, quận T, thành phố Hà Nội) mất tích kể từ ngày 01/01/2013.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự được thẩm tra tại phiên họp; ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên họp, Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân nhận định:
. Về tố tụng: Xét đơn của bà Nguyễn Thị Kim N yêu cầu Tòa án tuyên bố anh Đỗ Mạnh T mất tích là việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân theo quy định tại khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về sự vắng mặt của người yêu cầu là Nguyễn Thị Kim N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Đức T, chị Đỗ Thị Thu T tại phiên họp. Xét thấy, trong quá trình giải quyết các đương sự đã có bản tự khai, trình bày đầy đủ ý kiến và có đơn xin vắng mặt tại phiên họp. Căn cứ khoản 2 Điều 367 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 Tòa án tiến hành phiên họp theo quy định của pháp luật vắng mặt các đương sự.
. Về nội dung: Căn cứ đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim N và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ việc dân sự nhận thấy:
Anh Đỗ Mạnh T, sinh năm 1985 có hộ khẩu thường trú và cư trú tại Số 2, Ngõ Y, đường K, phường T, quận T, thành phố Hà Nội là con đẻ của bà Nguyễn Thị Kim N và ông Đỗ Đức T. Khoảng tháng 12/2012 anh T bỏ nhà đi biệt tích không có tin tức gì, gia đình bà N ông T đã đăng thông tin tìm kiếm trên báo, đài phát thanh nhưng vẫn không có tin tức gì của anh T, hiện anh T làm gì, ở đâu gia đình không ai biết.
Tòa án nhân dân quận Thanh Xuân sau khi thụ lý việc dân sự đã có Quyết định Thông báo tìm kiếm người bị yêu cầu tuyên bố mất tích số 45/QĐ -TA ngày 04/5/2022 đối với anh Đỗ Mạnh T. Quyết định này đã được đăng trên báo, phát sóng trên các phương tiện thông tin đại chúng theo quy định của pháp luật. Cụ thể Thông báo trên báo Thanh Niên 03 số liên tiếp vào các ngày 06/5/2022, 07/5/2022, 09/5/2022 và đăng trên đài phát thanh VOV2 của Trung tâm quảng cáo và dịch vụ Truyền thông VOV các ngày 11, 12, 13/5/2022; Đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Toà án ngày 04/5/2022. Tuy nhiên đến nay vẫn không có tin tức gì của anh Đỗ Mạnh T.
Căn cứ kết quả xác minh tại CAP Thượng Đình ngày 13/5/2022 cung cấp Anh Đỗ Mạnh T sinh năm 1985 có HKTT tại Số 2, Ngõ Y, đường K, phường T, quận T, thành phố Hà Nội không sinh sống tại địa chỉ Số 2, Ngõ Y, đường K, phường T, quận T, thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến nay, ở đâu, làm gì chưa xác định được.
Từ những căn cứ nêu trên có cơ sở xác định: Anh Đỗ Mạnh T đã biệt tích từ tháng 12/2012 đến nay (trên 02 năm), gia đình bà Nguyễn Thị Kim N cũng như Tòa án quận Thanh Xuân đã áp dụng các biện pháp thông báo, tìm kiếm theo quy định của pháp luật nhưng vẫn không có tin tức xác thực về việc anh T còn sống hay đã chết. Do đó, căn cứ Điều 68 BLDS chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim N.
Về thời điểm tuyên bố anh Nguyễn Mạnh T mất tích: Bà N đề nghị Toà án tuyên bố anh Đỗ Mạnh T mất tích từ tháng 12/2012, do chỉ xác định được tháng anh T mất tích, do vậy căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015 xác định ngày mất tích của anh Đỗ Mạnh T là ngày đầu tiên của tháng tiếp theo tức là ngày 01/01/2013.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội là có căn cứ, phù hợp với nhận định của Tòa án nên được chấp nhận.
. Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị Kim N phải chịu lệ phí giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật nhưng được miễn nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ: Điều 68 Bộ luật dân sự 2015;
- Căn cứ: Khoản 3 Điều 27, điểm a khoản 2 Điều 35, điểm b khoản 2 Điều 39; khoản 2 Điều 367; Điều 387; điều 388; điều 389; điều 372 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1]. Chấp nhận đơn yêu cầu của bà Nguyễn Thị Kim N về việc tuyên bố anh Đỗ Mạnh T mất tích.
[2]. Tuyên bố anh Đỗ Mạnh T, sinh năm 1985; HKTT: Số 2, Ngõ Y, đường K, phường T, quận T, thành phố Hà Nội. Nơi cư trú cuối cùng trước biệt tích: Số 2, Ngõ Y, đường K, phường T, quận T, thành phố Hà Nội, mất tích từ ngày 01/01/2013.
[3]. Lệ phí giải quyết việc dân sự: Bà Nguyễn Thị Kim N phải chịu 300.000đồng lệ phí nhưng được miễn nộp theo quy định tại điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4]. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Đương sự vắng mặt tại phiên họp có quyền kháng cáo quyết định này trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc quyết định được niêm yết hợp lệ.
Viện kiểm sát có quyền kháng nghị quyết định này theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân Q. Thanh Xuân; - Chi cục Thi hành án Q, Thanh Xuân; - Lưu: Hồ sơ việc dân sự. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN HỌP (Đã ký) |