- Tranh chấp gì? "Cai nghiện"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 3, Điều 31 Pháp lệnh 09/2014 –UBTVQH13 ngày 20/01/2014; Khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ –CP ngày 09/6/2016.
- Căn cứ chính? Luật Xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13; Điều 1 Nghị định số 136/2016/NĐ-CP Sửa đổi, bổ sung một số điều của…; Điều 105 Luật Xử lý vi phạm hành chính
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH TỈNH TH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 89/2021/QĐ-TA |
QUYẾT ĐỊNH
ÁP DỤNG BIỆN PHÁP XỬ LÝ HÀNH CHÍNH
ĐƢA VÀO CƠ SỞ CAI NGHIỆN BẮT BUỘC
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TH, TỈNH TH
Với thành phần tiến hành phiên họp gồm có:
1. Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Trương Thị T Trúc
2. Thư ký phiên họp: Bà Nguyễn Thị T Huyền
Ngày 17/5/2021 tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH tiến hành phiên họp xem xét, Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thụ lý số 92/TB –TLHS ngày 06 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định mở phiên họp số 92/QĐ-TA ngày 10/5/2021 đối với:
Lê Văn T - Giới tính Nam, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1971; Nơi ĐKHKTT: Xóm H, xã C, thành phố TH, tỉnh TH; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Lê Văn H (đã chết) và con bà Hoàng Thị L; Tiền án, tiền sự, nhân thân: Không;
Được giao cho Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH ngày 24/3/2021. (Có mặt tại phiên họp)
Có sự tham gia của:
1. Đại diện cơ quan đề nghị: Bà Đồng Thị Hạnh – Chức vụ: Phó trưởng phòng, Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố TH
2. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH: Bà Hoàng Thị Diệu Ngọc, chức vụ: Kiểm sát viên
NHẬN THẤY
Theo hồ sơ đề nghị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T, sinh năm 1971, là đối tượng nghiện ma túy từ năm 2019 cho đến nay, không có chỗ ở ổn định. Ngày 23/3/2021 Lê Văn T có hành vi sử dụng ma túy loại Heroine, hình thức sử dụng là chích. Ngày 24/3/2021 Công an phường T, thành phố TH đã cho T đi xét nghiệm chất ma túy tại Trạm y tế phường và lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy đối với Lê Văn T.
Tại bản tường trình ngày 24/3/2021của Lê Văn T: Bản thân là người nghiện ma túy từ năm 2019 cho đến nay, hình thức sử dụng là chích. Ngày 23/3/2021 là ngày gần đây nhất có hành vi sử dụng ma túy sau đó bị Công an phường T lập biên bản vi phạm hành chính.
Tại phiếu theo dõi xác định tình trạng nghiện ma túy Phụ lục số 01 Thông tư liên tịch số 17/TTLT –BYT –BLĐTBXH –BCA ngày 09/7/2015 và phiếu trả lời kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 27/3/2021của Cơ sở tư vấn điều trị cai nghiện ma túy (nay là cơ sở cai nghiện đa chức năng) tỉnh TH kết luận Lê Văn T có nghiện ma túy, loại ma túy sử dụng là Heroine.
Ngày 24/3/2021 Chủ tịch UBND phường T đã ra Quyết định số 56/QĐ – UBND Giao cho Cơ sở tư vấn và điều trị, cai nghiện ma túy (nay là cơ sở cai nghiện đa chức năng) tỉnh TH quản lý người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc trong thời gian làm thủ tục đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T.
Tại phiên họp, Lê Văn T xác định: Bản thân là người nghiện ma túy từ năm 2019 cho đến nay, không có nơi cư trú ổn định, thường xuyên sử dụng ma túy. Lần sử dụng ma túy gần đây nhất là ngày 23/3/2021, loại ma túy sử dụng là Heroine, hình thức là chích. Ngày 24/3/2021 Trạm Y tế phường T xét nghiệm đối với T và kết quả là T dương tính với ma túy (MOP). Ngày 24/3/2021 Công an phường lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi trên. Ngày 27/3/2021 Phiếu trả lời kết quả về việc xác định tình trạng nghiện ma túy của Cơ sở tư vấn và Điều trị, cai nghiện ma túy (nay là Cơ sở cai nghiện đa chức năng) tỉnh TH xác định Lê Văn T có nghiện ma túy, tên loại ma túy sử dụng là Heroine. T được biết kết quả trên và việc lập hồ sơ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc T nhất trí, không có ý kiến gì. Quá trình lập hồ sơ Lê Văn T được biết và được đọc toàn bộ hồ sơ.
Tại phiên họp, đại diện phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố TH đề nghị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH, thời gian là 12 đến 14tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH có ý kiến: Quá trình xem xét, áp dụng biện pháp xử lý hành chính đối với Lê Văn T, cơ quan lập hồ sơ, cơ quan đề nghị đã thực hiện đúng quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính và Nghị định hướng dẫn. Quá trình từ khi thụ lý hồ sơ và tại phiên họp, Thẩm phán giải quyết đã tuân thủ theo đúng thủ các quy định của Pháp lệnh quy định về trình tự, thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, có đủ căn cứ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T. Căn cứ Điều 95, khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính, đề nghị áp dụng biện pháp xử lý vi phạm hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian là từ 12 đến 14 tháng đối với Lê Văn T.
XÉT THẤY
Qua xem xét hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T thấy:
- Về thẩm quyền: Căn cứ khoản 2 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 ngày 20/6/2012, Điều 3 Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/01/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về trình tự thủ tục xem xét, quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân thì việc đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố TH.
- Về thời hiệu: Ngày 24/3/2021 Công an phường T lập biên bản vi phạm hành chính đối với Lê Văn T về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bản thân T thừa nhận thường xuyên sử dụng ma túy, lần sử dụng gần đây nhất là ngày 23/3/2021. Do đó đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Phòng lao động thương binh và xã hội thành phố TH đối với Lê Văn T đảm bảo về thời hiệu theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 6 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 4 Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Về hồ sơ đề nghị áp dụng: Đã có đầy đủ các tài liệu theo quy định tại Điều 103, khoản 2 Điều 104 Luật xử lý vi phạm hành chính, Điều 9 Nghị định 221/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính và cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định 136/2016/NĐ-CP ngày 09/9/2016 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 221/2013 ngày 30/12/2013 của Chính phủ.
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T thấy: Lê Văn T, sinh năm 1971, không có nơi cư trú ổn định là người nghiện ma túy từ năm 2019, vẫn thường xuyên sử dụng, hình thức sử dụng là chích, loại ma túy sử dụng là Heroine. Ngày 23/3/2021 là ngày gần đây nhất T có hành vi sử dụng ma túy bị Công an phường T lập biên bản vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tại phiếu trả lời kết quả xét nghiệm chất ma túy ngày 27/3/2021 của Cơ sở tư vấn điều trị cai nghiện ma túy (nay là Cơ sở cai nghiện đa chức năng) tỉnh TH kết luận T có nghiện ma túy, loại ma túy Heroine. Sau khi thụ lý hồ sơ đề nghị xem xét Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cai nghiện bắt buộc đối với T, Tòa án giao thông báo thụ lý, Quyết định mở phiên họp và T đã nhận các tài liệu trên. Tại phiên họp Lê Văn T nhất trí với đề nghị của Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố TH và Viện kiểm sát nhân dân thành phố TH.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của người bị áp dụng: Lê Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào theo Điều 10 Luật xử phạt vi phạm hành chính. Trong quá trình lập hồ sơ Lê Văn T tự nguyện viết bản tường trình, tự nguyện khai báo được coi là tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 9 Luật xử phạt vi phạm hành chính.
Như vậy đã có đủ căn cứ để xác định Lê Văn T là người nghiện và sử dụng ma túy hàng ngày. Để đảm bảo cho Lê Văn T được chữa bệnh, phục hồi sức khỏe đồng thời hạn chế tái nghiện tại cộng đồng, trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, việc Phòng Lao động, thương binh và xã hội thành phố TH đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đối với Lê Văn T là có căn cứ, đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 95 và khoản 1 Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Điều 95, Điều 96 Luật xử lý vi phạm hành chính; Khoản 1 Điều 3, Điều 31 Pháp lệnh 09/2014 –UBTVQH13 ngày 20/01/2014; Khoản 2 Điều 1 Nghị định 136/2016/NĐ –CP ngày 09/6/2016.
1. Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH đối với:
Lê Văn T - Giới tính Nam, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1971; Nơi ĐKHKTT: Xóm H, xã C, thành phố TH, tỉnh TH; Chỗ ở hiện nay: Không có nơi cư trú ổn định
2. Thời gian chấp hành tại cơ sở cai nghiện bắt buộc là 13(Mười ba) tháng, kể từ ngày 24/3/2021.
3. Người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính có quyền khiếu nại, Cơ quan đề nghị có quyền kiến nghị, Viện kiểm sát có quyền kháng nghị đối với Quyết định này trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày công bố quyết định của Tòa án. (Đối với người bị đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính vắng mặt tại phiên họp thì được quyền khiếu nại trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án).
Thủ tục khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị quyết định được thực hiện theo quy định tại Điều 32 của Pháp lệnh số 09/2014/UBTVQH13 ngày 20/02/2014 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về trình tự thủ tục xem xét quyết định áp dụng các biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân.
4. Quyết định này có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị mà không có khiếu nại, kiến nghị, kháng nghị.
5. Cơ quan thi hành án quyết định: Công an thành phố TH chủ trì, phối hợp với Phòng Lao động thương binh và xã hội thành phố TH, tỉnh TH đưa người đi thi hành Quyết định; Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TH tiếp nhận người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
| Nơi nhận: - Phòng LĐTBXHTP TH; - VKSND tỉnh TH; -VKSND thành phố TH; - Công an thành phố TH; - Công an phường; - Cơ sở cai nghiện đa chức năng tỉnh TháiNguyên; - UBND phường (xã); - Người bị áp dụng; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN Trƣơng Thị T Trúc |