vanban.org

Quyết định 88/2025/QĐST-LĐ — Các yêu cầu về lao động trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

luật Lao động năm 2012; luật Lao động năm 2019; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu về lao động trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng — án lao động — "việc lao động"
  • Tòa quyết gì? 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 88/2025/QĐST-LĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết

Thư ký phiên họp: Bà Thái Thị Yến - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp: Bà Trần Thị Lý Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí

Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 144/2025/TLST-VLĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 29/2025/QĐST-LĐ ngày 11 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu: Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1973; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện

C, thành phố Cần Thơ (nay là xã C, thành phố C); địa chỉ liên lạc: Số A, Khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Công ty TNHH C; địa chỉ: Khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình

Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh).

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH C: Bà Đỗ Thị Hồng T, sinh năm

1995; bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1997; địa chỉ liên hệ: Công ty TNHH C; địa chỉ: Khu phố A, phường A, thành phố T, tỉnh Bình Dương (nay là phường A, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.

2.2. Bảo hiểm xã hội cơ sở L; địa chỉ: Đường N, phường L, Thành phố Hồ Chí

Minh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải quyết

ông Nguyễn Văn N trình bày:

Ông Nguyễn Văn N có nhu cầu rút bảo hiểm nên ông có đến liên hệ Bảo hiểm xã

hội T để rút bảo hiểm theo đúng quy định. Sau đó, ông được Bảo hiểm T1 thông báo thời điểm từ tháng 02 năm 2009 đến tháng 06 năm 2009 ông có ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty TNHH C. Vào thời gian trên ông có cho người khác (không nhớ họ tên, năm sinh, địa chỉ) mượn giấy chứng minh nhân dân của ông để ký hợp đồng với Công ty TNHH C với tên của ông và tham gia bảo hiểm xã hội với tên của ông từ tháng 02 năm 2009 đến tháng 06 năm 2009.

Nay, ông N yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động trong khoảng thời gian từ

tháng 02 năm 2009 đến tháng 06 năm 2009 giữa ông Nguyễn Văn N (do người khác là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH C bị vô hiệu. Ông N không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH C: Bà Đỗ Thị Hồng T; bà Lê

Thị Thu H thống nhất trình bày:

Vào khoảng thời gian từ tháng 02 năm 2009 đến tháng 06 năm 2009 ông Trần

Văn N1 có ký hợp đồng lao động (thời gian lâu rồi Công ty không nhớ hợp đồng lao động có xác định thời hạn hay không xác định thời hạn) và làm việc tại Công ty TNHH C. Thời gian ông N1 làm việc tại Công ty thì Công ty có đóng bảo xã hội cho ông N1 đầy đủ. Khi ông N1 đến Công ty làm việc, ông N1 cung cấp cho Công ty hồ sơ xin việc trong đó có giấy chứng minh nhân dân; đơn xin việc làm mang tên Trần Văn N1. Hồ sơ thể hiện tên người xin việc là Trần Văn N1 do đó toàn bộ hồ sơ tại Công ty liên quan người lao động làm việc cho Công ty TNHH C đều thể hiện tên Trần Văn N1 nên hàng tháng Công ty đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động đều có tên Trần Văn N1. Việc ông Trần Văn N1 có hành vi lừa dối mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động với Công ty là hành vi trái pháp luật và Công ty không thể biết việc làm trái pháp luật của người khác. Mãi đến khi Tòa án gửi Thông báo thụ lý việc dân sự và đơn yêu cầu cho Công ty TNHH C thì Công ty mới biết.

Nay, ông N1 yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động trong khoảng thời

gian từ tháng 02 năm 2009 đến tháng 06 năm 2009 giữa ông Trần Văn N1 (do người khác là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty TNHH C bị vô hiệu thì Công ty TNHH C không có ý kiến và đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu trình

bày:

Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm

thất nghiệp (BHTN) của Công ty TNHH C cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho ông Nguyễn Văn N sinh năm 1973, số CMND xxxxxxxxx; số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7409010612 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 02/2009 đến tháng 06/2009 tại Công ty TNHH C. Bảo hiểm xã hội cơ sở Lái Thiêu đề nghị Tòa án giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ Chí

Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của ông Nguyễn Văn N là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu ông Nguyễn Văn N và người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan Bảo hiểm xã hội cơ sở L; Công ty TNHH C có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Trong thời gian từ tháng 02/2009 đến tháng 06/2009, ông Nguyễn Văn N xác

định ông có cho một người (không nhớ họ tên, năm sinh, địa chỉ) mượn hồ sơ để thực hiện giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH C và được Công ty TNHH C tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7409010612. Cùng thời gian này ông Nguyễn Văn N cũng đang làm việc Công ty TNHH C và được Công ty TNHH C tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7408075519

Xét thấy, lời khai ông N phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã hội cơ sở

Lái Thiêu. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 02/2009 đến tháng 06/2009, ông N đang làm việc tại Công ty TNHH C và tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số 7408075519. Cùng thời gian này ông N lại cho một người khác mượn hồ sơ và được Công ty TNHH C tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số 7409010612. Như vậy, việc ông N cho người khác mượn giấy chứng minh nhân dân để giao kết hợp đồng lao động với Công ty TNHH C là vi phạm pháp luật.

Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15 của

Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc ông N cho người khác mượn hồ sơ cá nhân của ông N để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7409010612 từ tháng 02/2009 đến tháng 06/2009 tại Công ty TNHH C là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn

N về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Văn N với Công ty TNHH C theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409010612 bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét yêu

cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu". Ông N có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7409010612.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố

tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Ông Nguyễn Văn N phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều 39;Điều

146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52 của Bộ

luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 của Bộ

luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của ông Nguyễn Văn N.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa ông Nguyễn Văn N với Công ty TNHH C

(theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409010612) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409010612 không phải là

ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1973, giới tính: Nam, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Ông Nguyễn Văn N được quyền liên hệ với C1 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7409010612.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Ông Nguyễn Văn N phải chịu 300.000đ

(ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai thu số 0005063 ngày 23/7/2025 của Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong

thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án

dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ