vanban.org

Quyết định 84/2025/QĐST-LĐ — Các yêu cầu về lao động trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Bộ luật Lao động năm 2012; Bộ luật Lao động năm 2019; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Các yêu cầu về lao động trong trường hợp chưa có điều luật áp dụng — án lao động — "việc lao động"
  • Tòa quyết gì? 39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • Căn cứ chính? Điều 146 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 149 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 15 Bộ luật Lao động
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Số: 84/2025/QĐST-LĐ
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 22 tháng 8 năm 2025

QUYẾT ĐỊNH

SƠ THẨM GIẢI QUYẾT VIỆC LAO ĐỘNG

V/v yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 16 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần giải quyết việc lao động gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên họp: Bà Phạm Thị Bạch Tuyết

Thư ký phiên họp: Bà Thái Thị Yến - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 16 - Thành phố Hồ Chí Minh tham

gia phiên họp: Bà Trần Thị Lý Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân khu vực 16 - Thành phố Hồ

Chí Minh mở phiên họp sơ thẩm công khai giải quyết việc lao động thụ lý số: 145/2025/TLST-VLĐ ngày 30 tháng 7 năm 2025 về việc “Yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu” theo Quyết định mở phiên họp sơ thẩm giải quyết việc lao động số: 31/2025/QĐST-LĐ ngày 11 tháng 8 năm 2025, gồm những người tham gia tố tụng sau đây:

1. Người yêu cầu: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1988; địa chỉ: Thôn S, xã Q,

huyện Q, tỉnh Nghệ An (nay là xã Q, tỉnh Nghệ An); địa chỉ liên lạc: Số E đường Q, khu phố Đ, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương (nay là phường Đ, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.

2. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

2.1. Công ty liên doanh P; địa chỉ: Số B, khu phố B, phường B, thành phố T,

tỉnh Bình Dương (nay là phường B, Thành phố Hồ Chí Minh). Vắng mặt.

2.2. Bảo hiểm xã hội cơ sở L; địa chỉ: Đường N, phường L, Thành phố Hồ Chí

Minh. Vắng mặt.

2.3. Bà Nguyễn Thị Minh C, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn S, xã Q, huyện Q,

tỉnh Nghệ An (nay là xã Q, tỉnh Nghệ An). Vắng mặt.

NỘI DUNG VIỆC LAO ĐỘNG:

- Theo đơn yêu cầu giải quyết việc lao động và lời khai trong quá trình giải

quyết bà Nguyễn Thị D trình bày:

Bà Nguyễn Thị D có nhu cầu rút bảo hiểm nên bà có đến liên hệ Bảo hiểm xã

hội T để rút bảo hiểm theo đúng quy định. Sau đó, bà được Bảo hiểm Thuận A thông báo thời điểm từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 02 năm 2010 bà có ký hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty liên doanh P. Vào thời gian trên bà có cho bà Nguyễn Thị Minh C mượn giấy chứng minh nhân dân của bà để ký hợp đồng với Công ty liên doanh P với tên của bà và tham gia bảo hiểm xã hội với tên của bà từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 02 năm 2010. Thực tế trong thời gian trên bà không làm việc tại Công ty liên doanh P. Trong khoảng thời gian trên bà làm việc tại công ty khác có tham gia BHXH theo thời gian trên.

Nay, bà D yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động trong khoảng thời gian từ

tháng 12 năm 2009 đến tháng 02 năm 2010 giữa bà Nguyễn Thị D (do bà Nguyễn Thị Minh C là người ký kết) với người sử dụng lao động là Công ty liên doanh P bị vô hiệu. Bà Nguyễn Thị D không yêu cầu Tòa án giải quyết hậu quả khi tuyên hợp đồng vô hiệu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Minh C trình bày:

Vào thời điểm năm 2010, bà chưa đủ tuổi lao động nên không đủ điều kiện để

ứng tuyển lao động, do không hiểu biết về mặt pháp luật nên bà đã mượn hồ sơ và thông tin cá nhân của bà Nguyễn Thị D để làm hồ sơ lao động.

Bà đã mượn thông tin cá nhân của bà Nguyễn Thị D và đã làm việc tại Công ty

liên doanh P từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 02 năm 2010, sau đó bà nghỉ việc tại Công ty liên doanh P. Khoảng thời gian từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 02 năm 2010 bà Nguyễn Thị D cũng đang làm việc tại Công ty khác. Vì vậy, bà Nguyễn Thị D đã bị đóng trùng bảo hiểm từ tháng 12 năm 2009 đến tháng 02 năm 2010.

Nay, bà Nguyễn Thị D yêu cầu Tòa án tuyên hợp đồng lao động từ tháng 12

năm 2009 đến tháng 02 năm 2010 giữa bà Nguyễn Thị D và Công ty liên doanh P bị vô hiệu thì bà đồng ý, bà không yêu cầu giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu.

- Bảo hiểm xã hội cơ sở L trình bày:

Qua kiểm tra đối chiếu dữ liệu tham gia BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT), bảo

hiểm thất nghiệp (BHTN) của Công ty liên doanh P cho người lao động thì Công ty có tham gia BHXH, BHYT, BHTN cho bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1988, số CMND xxxxxxxxx; số CCCD xxxxxxxxxxxx, với mã số BHXH 7409331664 có quá trình tham gia BHXH, BHYT, BHTN từ tháng 12/2009 đến tháng 02/2010 tại Công ty liên doanh P. Đã được BHXH tỉnh B thực hiện chốt sổ ngày 17/8/2012 với tổng quá trình tham gia BHXH-BHTN là 03 tháng.

- Tại phiên họp, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 16, Thành phố Hồ

Chí Minh phát biểu ý kiến về việc giải quyết việc lao động và đề nghị: Quá trình tố tụng, Thẩm phán, Thư ký phiên họp và đương sự đã chấp hành theo đúng quy định của pháp luật. Về nội dung: Xét thấy, yêu cầu của bà Nguyễn Thị D là có căn cứ, đề nghị Tòa án xem xét chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Người yêu cầu bà Nguyễn Thị D; người có quyền lợi,

nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Minh C và Bảo hiểm xã hội cơ sở L có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Riêng Công ty liên doanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 367 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành phiên họp vắng mặt các đương sự.

Xem xét yêu cầu của đương sự:

Trong thời gian từ tháng 12/2009 đến tháng 02/2010, người lao động tên

Nguyễn Thị D giao kết hợp đồng lao động với Công ty liên doanh P và được Công ty liên doanh P tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp với mã số bảo hiểm xã hội là 7409331664. Tuy nhiên, bà D và bà C đều thừa nhận người ký hợp đồng lao động với Công ty liên doanh P và thực tế làm việc tại công ty T khoảng thời gian từ tháng tháng 12/2009 đến tháng 02/2010 là bà Nguyễn Thị Minh C (do bà D cho bà C mượn chứng minh nhân dân).

Xét thấy, lời khai của bà C, bà D phù hợp với xác nhận của Bảo hiểm xã

hội cơ sở Lái Thiêu. Bởi lẽ, trong khoảng thời gian từ tháng 12/2009 đến tháng 02/2010, bà D đang làm việc tại Công ty khác và có tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp. Như vậy, chủ thể ký kết hợp đồng lao động và làm việc tại Công ty liên doanh P trong khoảng thời gian từ tháng 12/2009 đến tháng 02/2010 là Nguyễn Thị Minh C, không phải là bà Nguyễn Thị D.

Theo khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động năm 2012 và khoản 1 Điều 15 của

Bộ luật Lao động năm 2019, quy định về nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động: “Tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực”. Theo quy định về nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động tại khoản 2 Điều 19 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin cho người sử dụng lao động về họ tên, tuổi, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, tình trạng sức khoẻ và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu” và khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người lao động phải cung cấp thông tin trung thực cho người sử dụng lao động về họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, nơi cư trú, trình độ học vấn, trình độ kỹ năng nghề, xác nhận tình trạng sức khỏe và vấn đề khác liên quan trực tiếp đến việc giao kết hợp đồng lao động mà người sử dụng lao động yêu cầu”. Theo quy định về hợp đồng lao động vô hiệu tại điểm b khoản 1 Điều 50 của Bộ luật Lao động năm 2012, thì: “Người ký kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền” và điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động năm 2019, thì: “Người giao kết hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền hoặc vi phạm nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật này”. Theo hướng dẫn tại Công văn số 1767/LĐTBXH-BHXH ngày 31/5/2022 về việc người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động của Bộ L1 thì: “…Trường hợp người lao động mượn hồ sơ của người khác để giao kết hợp đồng lao động là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” theo quy định tại khoản 1 Điều 15 của Bộ luật Lao động và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật Lao động. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 49 của Bộ luật Lao động đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ…”. Do đó, có cơ sở xác định việc bà C mượn hồ sơ cá nhân của bà D để giao kết hợp đồng lao động và tham gia bảo hiểm xã hội theo sổ BHXH số 7409331664 từ tháng 12/2009 đến tháng 02/2010 tại Công ty liên doanh P là hành vi vi phạm nguyên tắc “trung thực” và vi phạm nghĩa vụ cung cấp thông tin khi giao kết hợp đồng lao động, đây là trường hợp hợp đồng lao động vô hiệu toàn bộ.

Từ những nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn

Thị D về việc yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị D với Công ty liên doanh P theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409331664 bị vô hiệu.

Tại khoản 5 Điều 402 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về xem xét

yêu cầu tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu, thỏa ước lao động tập thể vô hiệu:“... Tòa án phải giải quyết hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng lao động vô hiệu", chấp nhận yêu cầu của bà D và ý kiến của bà C về việc xác định người lao động tại Công ty liên doanh P trong giai đoạn từ tháng 12/2009 đến tháng 02/2010 là bà Nguyễn Thị Minh C, không phải là bà Nguyễn Thị D. Bà D và bà C có quyền liên hệ cơ quan bảo hiểm xã hội có thẩm quyền để cải chính thông tin tại Sổ bảo hiểm xã hội mã số 7409331664.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát về nội dung việc lao động, các thủ tục tố

tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên họp là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về lệ phí: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 33; điểm d khoản 2 Điều 35; điểm v khoản 2 Điều

39;Điều 146; Điều 149; Điều 361; Điều 366; Điều 367; Điều 370; Điều 371; Điều 372; Điều 401 và Điều 402 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ khoản 1 Điều 17; khoản 2 Điều 19; Điều 50; Điều 51 và Điều 52 của

Bộ luật Lao động năm 2012;

- Căn cứ khoản 1 Điều 15; khoản 2 Điều 16; Điều 49; Điều 50 và Điều 51 của

Bộ luật Lao động năm 2019;

- Căn cứ Điều 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của

Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu giải quyết việc lao động của bà Nguyễn Thị D.

- Tuyên bố hợp đồng lao động giữa bà Nguyễn Thị D với Công ty liên doanh P

(theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409331664) bị vô hiệu.

- Xác định người lao động theo sổ bảo hiểm xã hội số 7409331664 không phải

là bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1988, giới tính: Nữ, quốc tịch: Việt Nam, căn cước công dân số: xxxxxxxxxxxx. Bà Nguyễn Thị D và bà Nguyễn Thị Minh C được quyền liên hệ với C1 có thẩm quyền để tiến hành thủ tục cải chính thông tin tại sổ bảo hiểm xã hội mã số 7409331664.

2. Lệ phí sơ thẩm giải quyết việc lao động: Bà Nguyễn Thị D phải chịu 300.000

đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng đã nộp theo Biên lai thu số 0005043 ngày 23/7/2025 của Thi hành án Dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Người yêu cầu, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo

trong thời hạn 10 (mười) ngày, kể từ ngày nhận được quyết định hoặc kể từ ngày quyết định được thông báo, niêm yết. Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết trong thời hạn 10 (mười) ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ