- Tranh chấp gì? Yêu cầu liên quan việc trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại — án kinh doanh thương mại — "Yêu cầu hủy phán quyết trọng tài"
- Tòa quyết gì? Không hủy Phán quyết Trọng tài vụ tranh chấp số 81/18 HCM do Trung tâm Trọng tài Quốc tế V lập ngày 23/02/2019.
- Căn cứ chính? Điều 4 Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP Hướng dẫn thi hành một số quy…; Điều 57 Luật Trọng tài thương mại; Điều 68 Luật Trọng tài thương mại
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Số: 874/2019/QĐST-KDTM Ngày: 25/7/2019 |
QUYẾT ĐỊNH
VỀ VIỆC HỦY PHÁN QUYẾT TRỌNG TÀI
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với Hội đồng xét đơn yêu cầu gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa: Ông Ngô Thanh Nhàn
Thẩm phán:
Ông Ngô Văn Dũng
Thẩm phán:
Bà Lưu Thị Đoan Trang
Thư ký ghi biên bản phiên họp: Bà Hồ Thị Kim Oanh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên họp: Bà Trương Thị Hồng Hoa, Kiểm sát viên.
Ngày 18 và ngày 25 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự thụ lý số 38/KDTMST ngày 05/4/2019 về yêu cầu hủy phán quyết trọng tài theo Quyết định mở phiên họp số 2603/2019/QĐ-MPH ngày 11/6/2019 và Quyết định hoãn phiên họp số 4759/2019/QĐST-KDTM ngày 28/6/2019, giữa:
Người yêu cầu: Công ty Cổ phần A; Địa chỉ trụ sở chính: 24A Đường 60,
phường Thảo Điền, Quận 2, TP.HCM.
Người đại diện hợp pháp: Bà Dương Thành Thúy Đoan là người đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền số 02/2019/UQ-AGC lập ngày 01/7/2019) - có mặt
Là bị đơn trong phán quyết trọng tài;
Người liên quan: Công ty TNHH S; Địa chỉ trụ sở chính: Khu Công nghiệp M, phường T, Thị xã B, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Anh D là người đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền số 05/UQ lập ngày 18/7/2019) – có mặt
Căn cứ vào Điều 71 của Luật Trọng tài thương mại;
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ kèm theo gồm: Phán quyết Trọng tài vụ tranh chấp số 81/18 HCM ngày 23/02/2019; biên bản phiên họp giải quyết vụ tranh chấp số 81/18 HCM ngày 25/01/2019; Thông báo số 1080/VIAC-HCM ngày 23/10/2018; Thỏa thuận hợp đồng số 160714/SAV/STAZ-AGC ngày 14/07/2016; Giấy triệu tập số 43/VIAC-HCM ngày 08/01/2019; Đơn xin hoãn phiên họp số 02/2019-CV-AGC ngày 24/01/2019; Giấy giao nhận tài liệu ngày 24/01/2019;
Sau khi xem xét đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài đề ngày 07 tháng 03 năm 2019 của Công ty Cổ phần A đối với Phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 81/18 HCM của Hội đồng Trọng tài thuộc Trung tâm Trọng tài Quốc tế V (Trung tâm V) lập ngày 23/02/2019 tại Thành phố Hồ Chí Minh (gọi tắt là phán quyết trọng tài) giải quyết tranh chấp phát sinh từ Thỏa thuận hợp đồng cung cấp và gia công thép xây dựng ngày 14/07/2016, giữa Công ty TNHH S và Công ty Cổ phần A;
NỘI DUNG YÊU CẦU VÀ CĂN CỨ YÊU CẦU HỦY PHÁN QUYẾT
TRỌNG TÀI:
Nội dung tranh chấp: Công ty TNHH S yêu cầu Công ty Cổ phần A thanh toán khoản nợ phát sinh từ Thỏa thuận hợp đồng cung cấp và gia công thép xây dựng ngày 14/07/2016 giữa các bên với số tiền nợ gốc là 48.956.807.574 đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 2.413.733.498 đồng;
Nội dung phán quyết trọng tài: Buộc Công ty Cổ phần A phải thanh toán cho Công ty TNHH S số tiền nợ gốc là 48.956.807.574 đồng và tiền lãi do chậm trả là 2.413.733.498 đồng, phí trọng tài là 1.074.376.000 đồng, thời hạn thanh toán là 30 ngày. Đồng thời phán quyết trọng tài còn quyết định về nghĩa vụ do chậm thi hành phán quyết.
Nội dung yêu cầu và căn cứ yêu cầu hủy phán quyết trọng tài: Công ty Cổ phần A yêu cầu hủy phán quyết trọng tài với những lý do như sau :
1. Ngày 24/01/2019 Công ty Cổ phần A nhận được thông tin là Trung tâm V sẽ tổ chức phiên họp giải quyết vụ tranh chấp vào ngày 25/01/2019, nên cùng ngày Công ty Cổ phần A đã gửi đơn xin hoãn phiên họp đến Trung tâm V nhưng không được Hội đồng trọng tài chấp nhận. Việc Hội đồng trọng tài không chấp nhận đơn xin hoãn phiên họp là vi phạm nguyên tắc “Bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự” quy định tại Điều 8 Bộ luật tố tụng dân sự và vi phạm nguyên tắc “Các bên tranh chấp đều bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Hội đồng trọng tài có trách nhiệm tạo điều kiện để họ thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình” quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Trọng tài thương mại;
2. Tại mục số 4.4 của Phán quyết, Hội đồng trọng tài tự áp đặt mức lãi suất nợ quá hạn trung bình mà không tham chiếu mức lãi suất cụ thể của các ngân hàng để quyết định chấp nhận mức lãi suất mà nguyên đơn yêu cầu là vi phạm nguyên tắc “tự do, tự nguyện thỏa thuận” quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luật tố tụng Dân sự, Điều 11 Luật Thương mại năm 2005 và điều 6.3 của Thỏa thuận hợp đồng giữa các bên;
Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên:
- Đơn yêu cầu hủy phán quyết trọng tài của Công ty Cổ phần A có hình thức phù hợp, còn trong thời hạn theo quy định. Tòa án thụ lý đúng thẩm quyền.
- Tại Điều 16 Thỏa thuận hợp đồng của các bên có thỏa thuận giải quyết tranh chấp tại Trọng tài Kinh tế V nhưng tổ chức trọng tài này đã giải thể từ năm 2004, nên căn cứ hướng dẫn tại khoản 1 Điều 4 Nghị quyết 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng thẩm phám tòa án nhân dân tối cao và quy định tại Điều 6 Luật Trọng tài thương mại, thỏa thuận trọng tài của các bên thuộc trường hợp thỏa thuận trọng tài không thực hiện được mà các bên chưa có sự thỏa thuận lại nên không thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại. Do vậy, căn cứ điểm a Điều 68 Luật Trọng tài thương mại, đề nghị chấp nhận yêu cầu của Công ty Cổ phần A hủy phán quyết trọng tài vụ tranh chấp số 81/18 HCM ngày 23/02/2019.
XÉT THẤY:
Sau khi xem xét đơn, các tài liệu kèm theo và nghe ý kiến của những người được triệu tập, ý kiến của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh;
(1) Căn cứ khoản 1 Điều 69 Luật Trọng tài thương mại thì đơn yêu cầu hủy Phán quyết Trọng tài của Công ty Cổ phần A trong thời hạn luật định.
(2) Căn cứ khoản 2 Điều 31; điểm a khoản 3 Điều 38; khoản 3 Điều 414 Bộ Luật tố tụng dân sự và điểm g khoản 2 Điều 7 Luật Trọng tài thương mại thì việc xét đơn yêu cầu hủy Phán quyết Trọng tài của Công ty Cổ phần A thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
(3) Về thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp của trọng tài:
Tại Điều 16 của Thỏa thuận hợp đồng giữa các bên có quy định nơi giải quyết tranh chấp là “Trọng tài Kinh tế V”, nhưng thực tế các bên cùng thừa nhận rằng không có 1 trung tâm trọng tài nào có tên gọi là “Trọng tài Kinh tế V”. Như vậy, đây là trường hợp thỏa thuận trọng tài nhưng không xác định được tổ chức trọng tài cụ thể. Căn cứ quy định tại khoản 5 Điều 43 Luật Trọng tài thương mại thì “Trường hợp các bên đã có thỏa thuận trọng tài nhưng không chỉ rõ hình thức trọng tài hoặc không thể xác định được tổ chức trọng tài cụ thể, thì khi có tranh chấp, các bên phải thỏa thuận lại về hình thức trọng tài hoặc tổ chức trọng tài cụ thể để giải quyết tranh chấp. Nếu không thỏa thuận được thì việc lựa chọn hình thức, tổ chức trọng tài để giải quyết tranh chấp được thực hiện theo yêu cầu của nguyên đơn.”. Vì vậy khi có tranh chấp xảy ra Công ty TNHH S nộp đơn khởi kiện Công ty Cổ phần A, Trung tâm V sau khi đã gửi văn bản cho Công ty Cổ phần A đề nghị thỏa thuận Trung tâm trọng tài giải quyết nhưng không nhận được trả lời của Công ty Cổ phần A là phù hợp quy định của pháp luật.
Đồng thời, tại biên bản phiên họp giải quyết của Hội đồng trọng tài ngày 25/01/2019, có nêu nội dung các bên thống nhất tại điểm 6 là “Các bên không có phản đối về thành phần của Hội đồng trọng tài, thẩm quyền của Trung tâm V cũng như thẩm quyền của Hội đồng trọng tài” và trong các lý do mà Công ty Cổ phần A đưa ra để yêu cầu hủy phán quyết của trọng tài cũng không có lý do Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền hoặc không có thỏa thuận trọng tài giữa các bên. Do đó, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật trọng tài thương mại: “Thoả thuận trọng tài là thoả thuận giữa các bên về việc giải quyết bằng Trọng tài tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh”, thì việc Hội đồng trọng tài xác định có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp là có cơ sở và phù hợp theo ý chí của các bên tranh chấp.
(4) Căn cứ khoản 1 Điều 26 của Quy tắc tố tụng trọng tài và Điều 57 Luật Trọng tài thương mại quy định: “Hội đồng trọng tài quyết định chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu hoãn, thời hạn hoãn và thông báo cho các bên”. Công ty Cổ phần A trình bày lý do xin hoãn Phiên họp là vì không có đủ thời gian chuẩn bị do ngày 24/01/2019 mới biết thông tin về Phiên họp sẽ mở vào ngày 25/01/2019, tuy nhiên tại tòa Công ty Cổ phần A xác nhận do nội bộ công ty có sự thay đổi nhân sự nên thông tin về Phiên họp đến người có trách nhiệm của công ty bị chậm, không phải do Hội đồng trọng tài chậm giao giấy triệu tập. Mặc khác, theo văn bản giải trình của Hội đồng trọng tài gửi Tòa án ngày 13/6/2019, thì tại Phiên họp ngày 25/01/2019, Công ty Cổ phần A có tham dự và không có thêm yêu cầu mở Phiên họp tiếp theo hay đề nghị bổ sung tài liệu chứng cứ. Do vậy, lý do của Công ty Cổ phần A yêu cầu hủy phán quyết của trọng tài do không được trọng tài chấp nhận việc xin hoãn Phiên họp ngày 25/01/2019 là không có cơ sở.
(5) Đối với lý do liên quan đến áp dụng mức lãi suất chậm trả của Phán quyết trọng tài không rõ cơ sở pháp lý, là vấn đề thuộc nội dung vụ tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã giải quyết, vì vậy căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 71 Luật Trọng tài thương mại, Hội đồng xét đơn không xét xử lại.
Từ những phân tích trên, đồng thời căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 68 Luật Trọng tài thương mại, thì khiếu nại của Công ty Cổ phần A không có cơ sở nên không có căn cứ để hủy phán quyết Trọng tài vụ tranh chấp số 81/18 HCM như yêu cầu của Công ty Cổ phần A.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Không hủy Phán quyết Trọng tài vụ tranh chấp số 81/18 HCM do Trung tâm Trọng tài Quốc tế V lập ngày 23/02/2019.
2. Quyết định này là quyết định cuối cùng và có hiệu lực thi hành ngay./.
| Nơi nhận: - TAND TC; - TAND cấp cao tại TP HCM; - VKSND cấp cao tại TP HCM; - VKSND TP HCM; - Cục THADS TP.HCM; - TT Trọng tài V; - Các đương sự; - Lưu VP, hồ sơ. . | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Ngô Thanh Nhàn |