vanban.org

Quyết định 87/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Việt Trì, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 16/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày16/3/2020. Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại đi động Nokia màu đen đã cũ có số Imei: 359277/04/517906/7 đã thu giữ của bị cáo S. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn S phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều c…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 87/2020/HS-ST
Ngày 16-6-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lý Thị Thanh Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Tranh

2. Bà Nguyễn Thị Sinh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Hoàng Diệp - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2020/TLST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 287/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn S, sinh ngày 03 tháng 3 năm 1977 tại huyện P, tỉnh Phú Thọ; Đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu 11, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn D bà Triệu Thị Đ (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị T và 02 con (lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 1999); tiền án: 01 (Bản án số 69, ngày 31/12/2013, TAND huyện P xử phạt 7 năm tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong toàn bộ bản án, ra trại ngày 02/02/2019), tiền sự: không; Bị cáo tạm giữ từ ngày 16/3/2020 đến ngày 19/3/2020 bị khởi tố bị can chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam công an tỉnh Phú Thọ, có mặt.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:chị Nguyễn Thị T, sinh năm 1978

Trú tại khu 11, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 10 giờ 05 phút, ngày 16/3/2020 tại khu 1A, phường V2, thành phố V, tỉnh Phú Thọ tổ công tác của Công an thành phố Việt Trì bắt quả tang Nguyễn Văn S, sinh năm 1977, trú tại khu 11, xã P, huyện P, tỉnh Phú Thọ có hành vi tàng trữ 01 gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng bên trong có chất bột cục màu trắng, S khai nhận đó là gói ma túy Heroine, S tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và thu giữ, niêm phong đối với gói giấy trên. Ngoài ra còn thu giữ 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha màu trắng đen biển kiểm soát 19P1 – 225.12 và 01 điện thoại đi động Nokia màu đen đã cũ có số Imei: 359277/04/517906/7 kèm sim số 0977.645.917.

Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định số chất bột, cục màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn S. Tại bản kết luận giám định số 349/KLGĐ ngày 18/3/2020, của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ kết luận:

“Mẫu chất bột, cục màu trắng gửi đến giám định là ma tuý, có tổng khối lượng 0,186 gam, loại Heroine”.

Heroine là chất ma túy nằm trong Danh mục I, số thứ tự 09, Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ. Hoàn lại 0,101 gam chất bột cục màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định.

Về nguồn gốc ma túy thu giữ khi bắt quả tang, Nguyễn Văn S khai nhận: Khoảng 09 giờ ngày 16/3/2020, S một mình điều khiển xe mô tô BKS: 19P1 – 225.12 đi ra thị trấn C, huyện P, tỉnh Phú Thọ gặp một nam giới không quen biết tự giới thiệu tên là T1, mua được của T1 01 gói ma túy Heroine có đăc điểm được gói trong gói giấy mặt ngoài màu vàng, mặt trong màu trắng với giá 500.000đ. Sau khi mua được ma túy, S đi xuống khu vực vắng người sau doanh trại quân đội thuộc phường V2 để sử dụng thì bị Công an thành phố Việt Trì kiểm tra bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã truy tố.

Bản Cáo trạng số: 85/CT-VKS-VT ngày 25 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Văn S về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố, không bổ sung hoặc thay đổi nội dung cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” .

Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S từ 27 (Hai mươi bảy) tháng đến 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày16/3/2020.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự: “5. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản gì khác ngoài 01 điện thoại đi động Nokia màu đen đã cũ có số Imei: 359277/04/517906/7, nên cần tịch thu chiếc điện thoại trên của bị cáo sung vào ngân sách nhà nước.

Về vật chứng vụ án:

-Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 bì niêm phong có số 349/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả mẫu vật sau giám định, bên trong có chứa 0,101gam chất bột, cục màu trắng.

+ Tịch thu tiêu hủy 01 sim số 0977.645.917 trong chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo S.

- Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Việt Trì đã trả lại cho chị Nguyễn Thị T chiếc xe mô tô Yamaha màu trắng đen BKS: 19P1 – 225.12 là phù hợp.

Về án phí:Buộc bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố Việt Trì, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố Tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đúng thời hạn do pháp luật quy định nên các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

Về nội dung:

Đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, thừa nhận nội dung cáo trạng truy tố là đúng.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều thống nhất, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 10 giờ 05 phút, ngày 16/3/2020tại khu 1A, phường V2, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Văn S đang tàng trữ 01 gói ma túy Heroine có khối lượng 0,186 gam để sử dụng cho bản thân thì bị Công an thành phố Việt Trì bắt quả tang thu giữ vật chứng.

Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, nội dung điều luật quy định:

Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a…

b…

c, Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 cókhối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.

Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội tại địa phương.

Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên bị cáo phải chịu hậu quả về hành vi phạm tội của mình.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng cho bị cáo: Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên bị cáo có 01 tiền án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và chưa được xóa án tích nên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Xét thấy, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo đã 01 lần phạm tội và ra trại được 01 năm nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà lại tiếp tục phạm tội. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo nghiêm khắc bằng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội do bị cáo gây ra mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần mức hình phạt tù cho bị cáo thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.

- Hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự: “5. Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo không có tài sản gì khác ngoài 01 điện thoại đi động Nokia màu đen đã cũ có số Imei: 359277/04/517906/7, nên cần tịch thu chiếc điện thoại trên của bị cáo sung vào ngân sách nhà nước.

Về vật chứng của vụ án:

- Ma túy là vật nhà nước cấm lưu hành, vì vậy cần tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong có số 349/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả mẫu vật sau giám định, bên trong có chứa 0,101gam chất bột, cục màu trắng.

- Đối với 01 sim số 0977.645.917 trong chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo S là vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.

- Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Việt Trì đã trả lại cho chị Nguyễn Thị T chiếc xe mô tô Yamaha màu trắng đen BKS: 19P1 – 225.12 là hợp pháp vì tài sản trên thuộc quyền quản lý hợp pháp của chị T và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo S.

Về nguồn gốc số Ma túy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhậnmua của một nam thanh niên tên là T1 nhưng bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể của người này nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra và xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và đúng theo quy định của pháp luật nên cần được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn S 27 (Hai mươi bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày16/3/2020.

Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại đi động Nokia màu đen đã cũ có số Imei: 359277/04/517906/7 đã thu giữ của bị cáo S.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 5 năm 2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Việt Trì và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).

2. Về vật chứng vụ án:

-Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 bì niêm phong có số 349/KLGĐ của Phòng kỹ thuật hình sự- Công an tỉnh Phú Thọ hoàn trả mẫu vật sau giám định, bên trong có chứa 0,101gam chất bột, cục màu trắng.

+ 01 sim số 0977.645.917 trong chiếc điện thoại đã thu giữ của bị cáo S.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28 tháng 5 năm 2020 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố Việt Trì và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Việt Trì).

- Xác nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Việt Trì đã trả lại cho chị Nguyễn Thị T chiếc xe mô tô Yamaha màu trắng đen BKS: 19P1 – 225.12 là người quản lý hợp pháp là hợp pháp.

(Theo biên bản về việc trả lại đồ vật, tài liệu ngày 23 tháng 4 năm 2020 của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Việt Trì).

3. Về án phí:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ