vanban.org

Quyết định 85/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC.

Buộc ông Lê Tấn D phải trả cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC toàn bộ số tiền là: 14.489.483 đồng (Mười bốn triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn, bốn trăm tám mươi ba đồng), trong đó: nợ gốc tính đến ngày 01/07/2020 là 12.719.407 đồng, nợ lãi tính đến ngày 01/07/2020 là 1.770.076 đồng. Về án… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng V kiện ông D"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng một số quy đ…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ B
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 85/2023/DS-ST
Ngày: 20-7-2023
V/v “Tranh chấp Hợp đồng
tín dụng”

NHAÂN DANH

NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM

TOØA AÙN NHAÂN DAÂN THAØNH PHOÁ BIEÂN HOØA - TÆNH ÑOÀNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vương Thị Khánh Loan.

Ông Trần Công Danh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Linh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Duyên – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 94/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 01 năm 2023, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2023/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 1041/2023/QĐST-DS ngày 22 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC

Địa chỉ: đường D, Phường 13, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông G – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Y – Chức vụ: Trưởng phòng tố tụng. (Theo văn bản ủy quyền ngày 18/3/2022)

Bà Yến ủy quyền lại cho: Ông Nguyễn V, sinh năm 1987

Địa chỉ liên hệ: đường D, Phường 13, Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo giấy ủy quyền ngày 05/4/2023).

- Bị đơn: Ông Lê Tấn D, sinh năm 1990

Địa chỉ: 16, ấp 1(nay là khu phố 2), phường D, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

(Ông Vũ có đơn xin vắng mặt, ông D vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện; bản tự khai; biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn V trình bày:

Vào ngày 27/07/2018, ông Lê Tấn D có ký hợp đồng tín dụng số 20180727-0005263 với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC (trước đây là Công ty tài chính TNHH Một thành viên Ngân hàng V) để vay số tiền số tiền 31.650.000 đồng (Ba mươi mốt triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) với lãi suất thỏa thuận 3,75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Theo thỏa thuận trong hợp đồng, ông D có trách nhiệm thanh toán số tiền 47.963.624 đồng (gồm cả gốc 31.650.000 đồng và lãi 16.313.624 đồng), trả chậm liên tiếp trong vòng 23 tháng; 22 tháng đầu, mỗi tháng trả 2.078.000 đồng, tháng cuối cùng trả 2.247.624 đồng, bắt đầu trả từ ngày 01/09/2018.

Thực hiện hợp đồng, ông D đã nhận đủ số tiền nói trên để tiêu dùng cá nhân và thanh toán cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC được 17 lần với tổng số tiền đã trả là 33.474.141 đồng. Kể từ ngày 06/12/2019 đến nay, ông D không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Công ty đã nhắc nhở nhiều lần.

Do khách hàng trễ hạn thanh toán nên Công ty tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Tấn D phải trả cho công ty toàn bộ số tiền là: 14.489.483 đồng (Mười bốn triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn, bốn trăm tám mươi ba đồng), trong đó: nợ gốc tính đến ngày 01/07/2020 là 12.719.407 đồng, nợ lãi tính đến ngày 01/07/2020 là 1.770.076 đồng.

Đối với tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 02/07/2020 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm, Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC không yêu cầu ông D phải trả.

Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC cũng không yêu cầu tính lãi suất chậm thi hành án phát sinh theo mức thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày Tòa án xét xử sơ thẩm cho đến khi ông D trả hết nợ, mà chỉ yêu cầu tính theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Ngoài ra, Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC không có yêu cầu gì thêm.

- Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng và giấy triệu tập cho ông Lê Tấn D đến Tòa làm việc, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng ông D vắng mặt không có lý do nên không ghi nhận được ý kiến.

- Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án được thực hiện đúng quy định. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là ông Lê Tấn D không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, không chấp hành theo đúng quy định.

- Về đường lối giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Lê Tấn D phải trả cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC toàn bộ số tiền là: 14.489.483 đồng (Mười bốn triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn, bốn trăm tám mươi ba đồng), trong đó: nợ gốc tính đến ngày 01/07/2020 là 12.719.407 đồng, nợ lãi tính đến ngày 01/07/2020 là 1.770.076 đồng.

Về án phí, ông D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Ông Nguyễn Hoàng Vũ là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ bản sao sổ hộ khẩu và biên bản xác minh ngày 16/3/2023 tại Công an phường D thì bị đơn ông Lê Tấn D có đăng ký thường trú và hiện đang sinh sống tại địa chỉ số 16, ấp 1(nay là khu phố 2), phường D, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tòa án đã thông báo và triệu tập hợp lệ cho ông D về việc thụ lý vụ án, hòa giải, công khai chứng cứ và xét xử nhưng ông D vẫn cố tình vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 207; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo đơn khởi kiện, Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Lê Tấn D phải trả toàn bộ số tiền là: 14.489.483 đồng (Mười bốn triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn, bốn trăm tám mươi ba đồng), trong đó: nợ gốc tính đến ngày 01/07/2020 là 12.719.407 đồng, nợ lãi tính đến ngày 01/07/2020 là 1.770.076 đồng mà Công ty đã cho ông D vay để tiêu dùng theo Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết. Căn cứ Điều 26, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015 xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là “Hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố B.

Về yêu cầu khởi kiện: Vào ngày 27/07/2018, ông Lê Tấn D có ký hợp đồng tín dụng số 20180727-0005263 với Công ty tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC (trước đây là Công ty tài chính TNHH Một thành viên Ngân hàng V) để vay số tiền số tiền 31.650.000 đồng (Ba mươi mốt triệu, sáu trăm năm mươi nghìn đồng chẵn) với lãi suất thỏa thuận 3,75%/tháng để tiêu dùng cá nhân. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC đã giải ngân và ông D đã nhận đủ số tiền theo thỏa thuận. Đồng thời, ông D đã thanh toán cho Công ty tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC được 17 lần với tổng số tiền đã trả là 33.474.141 đồng. Kể từ ngày 06/12/2019 đến nay, ông D không thanh toán thêm bất cứ khoản nào dù Công ty đã nhắc nhở nhiều lần. Vì vậy, Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố B giải quyết buộc ông Lê Tấn D phải trả cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC toàn bộ số tiền là: 14.489.483 đồng (Mười bốn triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn, bốn trăm tám mươi ba đồng), trong đó: nợ gốc tính đến ngày 01/07/2020 là 12.719.407 đồng, nợ lãi tính đến ngày 01/07/2020 là 1.770.076 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết tất cả các văn bản tố tụng, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp nhưng ông D không có ý kiến phản đối và cố tình vắng mặt. Như vậy, ông D đã từ bỏ quyền tự chứng minh và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ của nguyên đơn cung cấp để giải quyết và áp dụng Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015, buộc ông D phải có nghĩa vụ trả cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC toàn bộ số tiền là: 14.489.483 đồng (Mười bốn triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn, bốn trăm tám mươi ba đồng), trong đó: nợ gốc tính đến ngày 01/07/2020 là 12.719.407 đồng, nợ lãi tính đến ngày 01/07/2020 là 1.770.076 đồng.

Đối với tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán kể từ ngày 02/07/2020 đến ngày Tòa án xét xử sơ thẩm, Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC không yêu cầu ông D phải trả nên Hội đồng xét xử không xem xét. Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC không yêu cầu tính lãi suất chậm thi hành án phát sinh theo mức thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng kể từ ngày Tòa án xét xử sơ thẩm cho đến khi ông D trả hết nợ, mà chỉ yêu cầu tính theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án và Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết, ông Lê Tấn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 724.474 đồng (Bảy trăm hai mươi bốn nghìn, bốn trăm bảy mươi bốn đồng).

Lời phát biểu của Kiểm sát viên phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 429, Điều Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Điều 26, Điều 35 và Điều 39, Điều 147, Điều 184, Điều 203, khoản 1 Điều 207, Điều 220, Điều 228, Điều 238, Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Áp dụng Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm có hiệu lực ngày 15/3/2019;

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC.

Buộc ông Lê Tấn D phải trả cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC toàn bộ số tiền là: 14.489.483 đồng (Mười bốn triệu, bốn trăm tám mươi chín nghìn, bốn trăm tám mươi ba đồng), trong đó: nợ gốc tính đến ngày 01/07/2020 là 12.719.407 đồng, nợ lãi tính đến ngày 01/07/2020 là 1.770.076 đồng.

Về án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch: Ông Lê Tấn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 724.474 đồng (Bảy trăm hai mươi bốn nghìn, bốn trăm bảy mươi bốn đồng).

Hoàn trả cho Công ty Tài chính TNHH Ngân hàng V SMBC số tiền tạm ứng án phí đã nộp 362.237đồng (theo biên lai số 0005918 ngày 10/01/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố B).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ